Friday, September 24, 202111:26 AM(View: 15)
Vị linh mục trừ quỷ nổi tiếng là cha Amorth đã viết một tác phẩm vể Thánh Padre Pio vì ngài biết rất rõ về Thánh Padre Pio, một nhà thần bí mang vết thương thánh tại vùng Gargano, nước Ý.
Tuesday, September 21, 202112:55 AM(View: 46)
Nguồn: Mysticpost LM Livio tin rằng đây là thời giờ của các điều bí mật được tỏ lộ. “Thời giờ đã đến khi ma quỷ được quyền hành động với tất cả lực lượng và quyền lực của hắn. Giây phút hiện tại là giờ của Satan." “Hãy hoán cải! Sẽ là quá chậm trễ khi mà dấu hiệu đến. Trước đó, nhiều điều cảnh báo được ban cho thế giới. Mọi người hãy vội vàng hoán cải...
Friday, September 17, 202112:32 PM(View: 144)
Nguồn: Spiritdaily.com Câu chuyện này được đăng trên Marytv.tv và được giảng trong một bài giảng tiếng Anh ở làng Medjugorje vào tuần trước. Đây là câu chuyện thật xẩy ra: Cha Richard Walder đến từ thành phố Los Angeles, California.
Wednesday, September 15, 202112:19 PM(View: 85)
Khi đọc kinh 7 Sự Thương Khó Đức Mẹ là ta cho phép Mẹ an ủi trái tim chúng ta.
Wednesday, September 15, 202112:13 PM(View: 52)
https://catholicexchange.com/the-tender-solicitude-of-our-lady-of-sorrows Tác giả MAURA ROAN MCKEEGAN Vào đầu thập niên 1980s, Đức Mẹ hiện ra ở Kibeho, nước Rwanda, Phi Châu với 3 học sinh trẻ ở nước Rwanda và ban cho một trong 3 trẻ ấy là cô Marie Claire một nhiệm vụ đặc biệt: Đó là làm sống lại chuỗi 7 Sự Thương Khó Đức Mẹ.
Wednesday, September 15, 20214:00 AM(View: 67)
Nguồn: Glories Of The Precious Blood, LM Max Walz Năm 1830, khi Chân Phước Gaspar chịu nhiều đau khổ thì Chúa Giêsu đến an ủi ngài bằng một cách thức tuyệt vời. Khi Chân Phước đang dâng Thánh Lễ thì Chúa Giêsu chỉ cho ngài thấy hai dây xích bằng vàng bay lên từ Chén Thánh, rồi buộc chung quanh Chân Phước và kéo đưa ngài lên Thiên Đàng.
Wednesday, September 15, 20213:50 AM(View: 62)
Nguồn: Glories Of The Precious Blood, Lm Max Walz Một ngày kia linh mục Gaspar được lệnh trình diện trước Đức Giáo Hoàng Pio ViI. Ngài được Đức Giáo Hoàng sai đi truyền giáo. Ngài trả lời Đức Giáo Hoàng rằng: “Lạy Đức Thánh Cha, con sẽ vâng lời ngài.”
Wednesday, September 15, 20213:43 AM(View: 58)
Nguồn: Glories Of The Precious Blood, LM Max Walz Chân Phước Gaspar del Bufalo được phong Á Thánh bởi Đức Giáo Hoàng Pio X vào ngày 18/12/1904. Á Thánh Gaspar sinh ngày 6/1/1796 tại Roma, và chết ngày 28/12/1837 tại Roma, nước Ý. Trong năm đầu và năm thứ hai của cuộc đời, cậu bé rất ốm yếu và cậu bị đau nặng hai lần.
Tuesday, September 14, 20216:32 PM(View: 62)
Nguồn: Spiritdaily.net 1. Luôn cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần. Hướng về Thiên Đàng, đây là nguyên nhân chính khi ta còn ở trái đất.
Sunday, September 12, 20211:23 PM(View: 90)
Nguồn: Catholic Answers and Prayers Một người chia sẻ tâm tình: 1. Đừng lo lắng về ngày mai. 2. Hãy chấp nhận đau khổ, đừng tìm thoải mái trên trái đất.

16 CÂU CHUYỆN VỀ THÁNH ĐA MINH

Wednesday, August 25, 202111:36 AM(View: 110)

daminhh16 CÂU CHUYỆN VỀ THÁNH ĐA MINH


1: Thánh Phụ ĐA MINH, Linh mục (1170 - 1221)

Thánh Đa Minh sinh tại Castille, Tây Ban Nha, năm 1170. Truyện về tuổi trẻ của Ngài nói tới nhiều điềm báo lạ lùng. Mẹ Ngài, bà Aza mơ thấy con mình như một con chó ngậm đuốc chạy khắp cả thế gian. E ngại vì giấc mơ này bà làm tuần cửu nhật xin cho được sinh nở vuông tròn đến ngày thứ bảy, vị chánh sở nói với bà:

-Bà đừng sợ gì vì đứa trẻ sinh ra sẽ trở thành ánh sáng thế gian và niềm an ủi cho Giáo hội, nhờ sự thánh thiện và giáo thuyết của nó.

Khi trẻ Đa Minh còn nằm trong nôi, một bầy ong mật lượn quanh rồi êm ái đậu xuống nơi nôi Ngài. Điều này báo trước rằng lời lẽ miệng Ngài sẽ êm dịu như mật ngọt. Ngày chịu phép rửa tội, vú nuôi Ngài thấy một vì sao chói sáng trên trán Ngài. Đó là dấu ơn thánh Ngài sẽ tỏa chiếu để thu hút các linh hồn.

Được cưng chiều, thánh Đaminh sớm sống đời khổ hạnh. Ngài học hãm mình cầu nguyện khi vừa thôi nôi. Người vú nuôi nhiều lần thấy Ngài âm thầm thức dậy trong đêm tối để cầu nguyện. Ngài chọn một nơi thanh vắng ở cuối vườn làm nơi tâm sự với Chúa. Đức Trinh nữ thường hiện ra với Ngài, dạy Ngài lần chuỗi. Việc đạo đức này về sau trở thành phương thế hữu hiệu để cải hóa những người theo lạc giáo.

Đến tuổi đi học, Đaminh được gởi tới thụ giáo với ông cậu là tổng linh mục ở Gumiel. Năm 14 tuổi, Ngài theo học tại đại học ở Palencia và đã tiến triển rất nhanh về hiểu biết lẫn nhân đức. Nạn đói lan tràn nước Tây Ban Nha, một người bạn đến thăm Đaminh không thấy đồ dùng lẫn những pho sách quí đâu nữa. Ngài đã bán để giúp người nghèo khó rồi. Gương sáng này đã lôi kéo được nhiều sinh viên lẫn các giáo sư bắt chước.

Sau khi hoàn tất việc học, Đaminh được đức Chadiegô, giám mục Osma truyền chức linh mục. Vị giám mục đạo đức này đang muốn canh tân lòng đạo đức trong giáo phận, đã đặt cha Đaminh làm kinh sĩ. Khi lo chuyện nhà nước qua Châu Au, đức cha Diegô dẫn cha Đaminh đi theo. Tại Languedoc, các Ngài được chứng kiến được tàn phá mà bè rối Albigeois gây ra. Họ chủ trương rằng: mọi vật chất đều xấu và do ma quỉ. Sự hoàn thiện theo họ, hệ tại sự từ bỏ phi nhân bản để sống khắc khổ. Chủ trương này dẫn tới sự lãnh cảm. Chẳng hạn đối với việc hôn nhân và chôn vùi mọi cơ cấu xã hội gia đình. Họ còn có lễ nghi, và phẩm trật riêng. Người ta bị phân thành hai loại: một bên gồm những người hoàn thiện và những nhà lãnh đạo sống rất khắc khổ; bên kia là quần chúng tìm thấy nơi giáo thuyết mới lý do bào chữa cho sự tự do luân lý không bị kiềm chế của mình.

Trên đường về, đức cha Diegô và cha Đaminh đến Roma xin từ nhiệm để dấn thân vào cuộc truyền giáo quanh vùng Dniepen. Đức giáo hoàng Innocentê III từ lâu đã mong có người ra đi rao giảng tại miền nam nước Pháp, chống lại ảnh hưởng của bè rối Albigeois, thay vì chấp nhận lời thỉnh cầu, Đức giáo hoàng sai các Ngài tới miền nam nước Pháp. Hai người đã tới phụ lực với các sứ giả đã được sai tới trước kia. Tại Montpellier, đức cha Diegô đã nhận thấy sự khác biệt giữa các nhà giảng thuyết công giáo đầy xa hoa với các nhà giảng thuyết phái Albigeois đầy khiêm tốn giản dị. Các Ngài chọn đường lối khác, lấy khó nghèo và cầu nguyện làm gương sáng thu hút mọi người.

Tháng 4 năm 1207, nhiều tu sĩ Xitô đến trợ lực. Trong vòng một năm trời, có đến 40 vị dấn thân vào hoạt động. Những thành công sơ khởi bắt đầu tới, nhưng không kéo dài được lâu. Các tu sĩ Xitô nản lòng. Đức cha Diegô trở về Tây Ban Nha kiếm thêm người trợ lực và qua đời tại đây. Một vị sự thần cũng từ trần. Tệ hại hơn cả là Phêrô Castelman, vị sự thần khác, bị bọn lạc giáo ám sát.

Còn lại mình cha Đaminh. Ngài vẫn tiếp tục nhiệt tình hoạt động trong đường lối khổ hạnh và cầu nguyện. Không chấp nhận kiểu rao giảng khua trống gióng chiêng, Ngài nói:

- Không thể đến với kẻ thù như vậy được. Hãy trang bị bằng kinh nguyện và chân không mà đến với tên khổng lồ Goliath.

Trong sáu năm, cha Đaminh trải qua nhiều sóng gió, ngay khi mới tới, đức cha Diegô và Ngài đã thiết lập một cộng đoàn nữ tu tại Prouille. Bây giờ Ngài chỉ còn là trợ lực duy nhất, một ngày kia trong khi nhiệt tình cầu nguyện, thánh nhân than thở tại sao số người lạc giáo quá nhiều mà trở lại thì quá ít.

Đức Trinh nữ đã hiện ra và dạy Ngài hãy rao giảng phép lần hạt Mân Côi. Vâng lời Mẹ, thánh nhân dồn nỗ lực vào việc truyền bá sự sùng kính kỳ diệu này, thay vì tranh luận như trước, Ngài dạy dân chúng hiểu phương pháp và tinh thần khi lần chuỗi. Ngài dẫn giải cho họ các mầu nhiệm thánh. Kết quả thật lạ lùng. Sau một thời gian ngắn, thánh Đaminh đã được an ủi khi thấy hơn một trăm ngàn người tội lỗi và những kẻ lạc giáo được đưa trở về với Giáo hội.

Hoàn thành sứ mệnh, thánh Đaminh có ý định thành lập một dòng tu làm vườn ươm các tông đồ. Ngài trình bày dự tính với Đức giáo hoàng Innocentê III. Nhưng đức giáo hoàng ngần ngại. Đêm sau Ngài mơ thấy đại giáo đường Lateranô bị rung chuyển và thánh Đaminh đưa vai chống đỡ bức tường cho khỏi sụp đổ. Biết ý Chúa Ngài cho gọi thánh nhân đến và chấp thuận cho lập dòng mới. Đây là dòng giảng thuyết.

Khi còn ở Roma, một đêm kia, trong lúc cầu nguyện, thánh Đaminh thấy Chúa Giêsu giận dữ muốn phóng ba ngọn đuốc xuống thiêu hủy thế gian:

- Loài người lao mình vào nết xấu kiêu căng nhục dục và biển lận, nên Ta muốn hủy diệt chúng bằng 3 ngọn lửa này.

Nhưng Đức Trinh Nữ cản lại:

- Con ơi, hãy thương xót thế gian. Này đây có hai người sẽ làm sống dậy các nhân đức.

Đaminh biết mình là một, nhưng người kia là ai thì chưa rõ. Hôm sau khi đến nhà thờ Ngài gặp một tu sĩ, mặc đồ người ăn xin ngồi ngay cửa. Đó là thánh Phanxicô. Hai người chưa gặp nhau, nhưng đã ôm choàng lấy nhau và gọi tên nhau. Các Ngài hợp nhất với nhau trong công cuộc của Chúa.

Thánh Đaminh đề cao việc học, Ngài gởi các tu sĩ đến các đại học, Ngài truyền:

-Chớ gì các tu sĩ chuyên cần học tập ngày đêm. Lúc ở nhà cũng như khi đi ngoài đường, họ phải không ngừng đọc sách và suy gẫm.

Thánh Đaminh rảo qua khắp nẻo trên đường giảng dạy, một thanh niên ngây ngất hỏi Ngài đã học cách nào, Ngài nói:

-Hỡi con trong sách đức ái đó, sách này hơn mọi sách dạy bảo tất cả.

Một năm trước khi qua đời, các tu sĩ Đaminh đã được sai tới Oxford, Hungaria, Đan Mạch và Hy lạp. Thánh Đaminh qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221.

2. Thánh Đa Minh và Chiếc Đầu Lâu Biết Nói.

Tác giả bài viết là Thánh Alphonso Ligouri.

Cha Eusêbiô Nierembê thuật rằng:

‘Trong một thành phố nước Aragôn, có một thiếu nữ quí phái, nhan sắc và trang trọng khác vời. Cô tên là Alêxandra. Cô được hai thanh niên trong thành cùng thầm yêu trộm nhớ. Do mối hờn ghen xúc xiểm, hai chàng đó, một hôm đã cùng nhau đọ sức và cả hai đã giết hại nhau. Thân thuộc của hai chàng, vì cơn hỏa nóng bốc cháy tâm hồn, qui tất cả mọi tội lỗi lên đầu cô thiếu nữ. Vì thế họ kéo nhau đến nhà nàng, giết chết nàng. Họ chặt đầu nàng và ném thi thể xuống giếng sâu.

Một ít ngày sau, thánh Đa Minh có dịp qua vùng đó. Được linh cảm bởi ơn Trời, ngài đến bên giếng và gọi to:
-Alexanđa ơi, lên đây!

Thốt nhiên, đầu thiếu nữ xuất hiện và tự đặt lên trên thành giếng, xin thánh Đa Minh giải tội, thánh nhân nghe nàng xưng tội, xá giải cho nàng, lại rước Thánh Thể cho nàng rước lĩnh, trước một số rất đông dân chúng kéo đến xem sự lạ. Sau đó, thánh nhân ra lệnh cho nàng nói nhờ đâu mà nàng được đặc ân vĩ đại ấy. Alêxanđa trả lời rằng:

“Lúc con bị người ta giết, con còn mang tội trọng. Nhưng Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đã giữ cho con được sống, để tưởng thưởng lòng con từng sốt sắng đọc kinh Mân Côi.”

Liền hai ngày tiếp đó, mọi người còn được thấy thủ cấp Alêxanđa sống tươi nguyên vẹn trên miệng giếng, cho đến khi hồn nàng vào luyện ngục.

Nhưng chỉ mười lăm ngày sau, nàng lại hiện đến với thánh Đa Minh, diễm lệ và sáng trưng như một vì tinh tú. Nàng thưa với thánh nhân rằng không có việc lành nào hiệu lực để cứu giúp các linh hồn luyện ngục bằng việc đọc kinh chuỗi Mân Côi. Nàng cũng thêm rằng, các linh hồn lành thánh đó, khi đã lên trời, sẽ không quên cầu nguyện cho những người đã cầu nguyện cho mình được giải thoát. Liền đó, thánh Đa Minh thấy linh hồn may mắn của nàng, tràn đầy hoan hỉ, băng mình về Thiên Đàng.

(Trích sách Vinh Quang Đức Mẹ Maria, của thánh Alphonso Ligouri, chuyển ngữ: Phạm Duy Lễ, CMC)

3. THÁNH ĐA MINH LÀM 3 PHÉP LẠ CẢI TỬ HOÀN SINH

Khuynh hướng Giáo hội gần đây khi cổ võ lòng tôn kính các thánh, thường nhấn mạnh việc noi gương đời sống nhân đức của các ngài. Điều đó chính xác, tuy nhiên đừng quên, các thánh luôn là những đấng chuyển cầu thần thế cho chúng ta trước nhan Thiên Chúa.

Các vị thánh như thánh Đaminh, Vincentê, Martinô … nên thánh do đời sống thánh thiện của các ngài chứ không phải nhờ phép lạ, nhưng các phép lạ là dấu hiệu để ta nhận ra tình yêu của các ngài với Chúa lớn lao như thế nào. Và Hội thánh vẫn dựa vào phép lạ, khi suy tôn các vị trên bàn thờ.

Thánh Đaminh lúc sinh thời, đã được Chúa ban nhiều dấu lạ như: Cuốn sách không cháy trong cuộc tranh luận với lạc giáo; Khả năng nói tiếng Đức để giảng cho khách hành hương; Cứu sống đoàn tàu hành hương Compostella thoát cơn bão tố; Các phép lạ chữa bệnh; Thiên thần đem bánh cho tu viện khi thầy đi hành khất vì bác ái đã phân phát hết cho người nghèo …

Trong bài này xin giới thiệu ba phép lạ đặc biệt, phép lạ cải tử hoàn sinh, cho người đã chết được sống lại. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Đaminh, Chúa đã thực hiện việc cải tử hoàn sinh một kiến trúc sư, một em bé và cháu của hồng y Têphanô.

Nhiều phép lạ khác của thánh nhân trong tác phẩm “Thánh phụ Đaminh, Đấng sáng lập dòng thuyết giáo”, của cha Giuse Nguyễn Tri Ân, OP.

4. Cải tử hoàn sinh một kiến trúc sư


Một kiến trúc sư được mời đến giúp sửa chữa nhà cửa tại tu viện Sixto. Một hôm, khi cha Đa Minh đi vắng, các thầy dẫn ông lên coi một tháp cao chót vót đã cũ cần được sửa lại. Chẳng may tháp lâu ngày đã mục đổ xuống vùi ông dưới đống đá chết ngay tại chỗ. Cả nhà dòng và dân chúng tuốn đến coi tai nạn mới xảy ra và bàn tán xôn xao.

Cha Đa Minh đi giảng về, nghe biết tin, người bình tĩnh tiến thẳng đến chỗ tai nạn xảy ra, và yêu cầu các thầy bới đống gạch đá để lấy xác ra ngoài. Sau đó, người quì xuống cầu nguyện với Chúa.

Khi cha Đa Minh vừa cầu nguyện xong, toàn thể dân chúng đứng chung quanh đều chứng kiến nạn nhân được sống lại với thân thể lành mạnh như không có việc chi xảy ra. Tiếng phép lạ đồn thổi khắp thành Rôma.

5. Cải tử hoàn sinh một em bé


Đó cũng là nội dung bức tranh được giáo xứ Đaminh trưng bày tại gian cung thánh năm nay, theo chủ đề "Thánh Đaminh, con người của lòng trắc sẩn". Bức tranh do họa sĩ Vlaho Bukovac người Praha Tiệp Khắc vẽ năm 1911, và được tôn kính tại nhà thờ thánh Đaminh tại Dubrovnik. 

Một góa phụ tên là Tuta, có đứa con bị bệnh nặng. Nhưng quyết định đến nhà thờ thánh Maccô tại Rôma để nghe Cha Đaminh giảng thuyết. Khi về nhà bà phát hiện ra con trai của bà mới chết.


Bà mang đứa bé đến nhà thờ và thấy thánh Đaminh đứng ngay ở cửa như đang chờ ai đó. Bà liền đặt đứa bé dưới chân thánh nhân và xin ngài cứu sống con mình. Thánh Đaminh đến trước bàn thờ cầu nguyện một lát, rồi đến gần hai mẹ con, làm dấu Thánh giá ban phúc lành và đặt tay ... Bỗng nhiên đứa trẻ được hồi sinh.


Phép lạ này được ĐTC Honorio III công nhận, khiến ảnh hưởng của cha Đa Minh tăng lên gấp bội; thiên hạ tuốn đến với Người rất đông, họ chen nhau đụng chạm đến áo người mặc. Có người còn lén cắt trộm gấu áo của người để làm kỷ niệm di tích của một Đấng Thánh.


6. Cải tử hoàn sinh Napoleô, cháu Hồng Y Têphanô

(Trích sách Phục sinh Napoleô - Thánh Đaminh xuất thần)

Một hôm cha Đa Minh đang cùng thảo luận với hồng y Têphanô và hai vị hồng y khác. Bỗng có người đến báo hung tín, Napolene Orsini, cháu gọi hồng y Têphanô bằng cậu vừa ngã ngựa và chết ngay tại chỗ. Nghe tin, hồng y Têphanô bàng hoàng ngất xỉu.

Cha Đa Minh đích thân chạy đến chỗ Napoleô nằm chết yêu cầu đem xác nạn nhân về nhà. Rồi người sốt sáng dâng thánh lễ cầu nguyện cho cậu. Sau đó ngài đi vào phòng để xác cậu, lấy tay xếp đặt lại các phần thân thể đã gãy, quì xuống cầu nguyện ba lần, làm dấu thánh giá trên thi hài cậu.

Rồi ngài lớn tiếng truyền lệnh:

“Napoleô, nhân danh Chúa Giêsu, con hãy chỗi dậy ngay”.

Người vừa dứt lời thì Napoleô đã hồi sinh, bằng yên vô sự, chân tay lành lặn như không có biến cố đáng tiếc đã xảy ra. Cha Đa Minh cầm tay Napoleô trao lại cho đức hồng y.

Lm Px Đào Trung Hiệu OP.

7. GƯƠNG THÁNH PHỤ ĐA MINH


Ngày nay, các linh mục đều là những nhà giảng thuyết, nhưng cách đây hơn 800 năm, chỉ các bậc giám mục trở lên mới có quyền giảng! Nói như vậy để chúng ta hiểu tại sao dòng Đa Minh được gọi là dòng giảng thuyết, và đặc sủng của dòng Đa Minh quả là một cuộc cách mạng to lớn vào thời đó.

Đa Minh sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzman, nên được gọi là Đa Minh Guzman. Guzman là một dòng tộc vị vọng tại Tây ban nha vào thời trung cổ. Thân phụ ngài là ông Felix, một kiếm sĩ "tuyệt vời và dịu dàng."

Bà cố là Joanna d'Aza, xuất thân từ gia đình cao quý. Bà cố đạo đức và được đức giáo hoàng Leo XII tuyên phong chân phước. Bên cạnh Đa Minh, bà cố còn có một người con nữa cũng là chân phước dòng Đa Minh: Mannes. Thực là gia đình đạo hạnh: một thánh, hai chân phước. Cũng nên biết rằng, người anh lớn của Đa Minh, linh mục triều, suốt đời làm việc trong nhà thương giúp đỡ người nghèo.

Nhiều dấu lạ xẩy ra khi Đa Minh chào đời. Theo thánh Jordan Saxony, vị ký lục về cuộc đời Đa Minh kể lại, thì khi đang mang thai, bà cố mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng.

Cuộc đời thánh nhân lúc còn nhỏ cũng bình thường như chúng ta. Năm lên bẩy, ngài được gửi đến ở với cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi, chú từ giã gia đình và bố mẹ để lên học tại Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây ban nha lúc bấy giờ.

Ngay từ hồi nhỏ, chú đã biết dung hòa việc học hành với đời cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Có những lần chú đã bán các sách học để gíup đỡ người nghèo. Sách vở lúc chưa có nhà in, là những phẩm vật rất quý giá, nhưng người nghèo với chú còn quý giá hơn. Cũng đã hai lần chú muốn bán mình để có tiền chuộc những người bị bắt làm nô lệ. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy chú sẽ dung hòa đời sống chiêm niệm và hoạt động trong tương lai?

Hết trung học, chú xin đi tu và có lẽ được truyền chức vào năm 1194. Sau đó, cha Đa Minh xin làm kinh sĩ tại nhà thờ chính tòa Osma. Kinh sĩ có bổn phận chuyên lo đọc kinh thay cho toàn giáo phận, nhất là thay cho các linh mục hoạt động. Hội kinh sĩ theo tinh thần tu luật của thánh Augustine, sống đời ẩn thân. Với lòng đạo đức và khôn ngoan, cha Đa Minh trở nên rường cột cho hội. Vì vậy, chỉ 2 năm sau, cha được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao cho 1 linh mục trẻ. Kinh sĩ Đa minh thường mang trên tay sách phúc âm theo thánh Matthêu, các thư của thánh Phaolô và sách các giáo phụ.

8. CHUẨN BỊ LẬP DÒNG

Vào năm 1213, đức cha địa phận và Đa Minh được ủy thác sứ mạng thu xếp cuộc hôn nhân của hoàng tử xứ Marches và công chúa Đan mạch. Trên đường đi Đan mạch, hai ngài phải băng qua miền nam nước Pháp. Có lẽ cuộc du hành này đã thay đổi cuộc đời Đa Minh. Tại Toulouse, trong một quán trọ, ngài đã nhận ra rằng, người chủ quán trọ là một người bỏ Công giáo theo nhóm Albigensê. Cũng nên biết từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, nhóm Albigensê đã rất thành công trong việc thuyết phục người khác theo họ.

Vào thời đại mà giáo hội miền nam nước Pháp bị tục hóa, khi các giám mục xa cách dân chúng, ăn mặc sang trọng, đi trên xe tứ mã, sống đời xa hoa, thì triết lý của Albigensê, dựa theo tinh thần lạc giáo Manikêu, quả là hấp dẫn với một số người. Gọi họ là Albigensê vì nhóm này khởi nguồn từ một thành phố miền nam Pháp tên là Albi. Họ chủ trương nơi con người có hai thái cực: tốt do Chúa tạo nên, xấu do Satan chiếm đoạt. Để loại trừ Satan, con người cần diệt dục, không nên lấy vợ, lấy chồng, không ăn thịt, cá và chỉ ăn rau cỏ. Ccuộc sống càng đơn sơ, càng trở về với thiên nhiên càng tốt.

Trong khi các giám mục địa phương, linh mục Cistercien ăn mặc sang trọng, thì giáo sĩ nhóm Albigensê ăn vận đơn sơ, đi chân không, mặc quần áo đơn giản. Do đó, họ có một bề ngoài gần gũi với đức khó nghèo của Thánh Kinh hơn. Điều quan trọng hơn cả là về tín lý họ chối bỏ 3 ngôi Thiên Chúa. Miền nam Pháp, Ý và Tây ban nha bị ảnh hưởng rất mạnh của nhóm này.

Đa Minh để cả đêm nói truyện với người lạc giáo. Ngài nhận thấy ông chủ quán là người có lòng thành nhưng bị nghe tuyên truyền sai lạc. Đến sáng, sau khi cầu nguyện hồi lâu thì bỗng dưng người chủ quán đổi lòng. Ông xin trở lại Công giáo. Việc trở lại này đã trở thành động lực lớn thúc đẩy Đa Minh lập dòng tu chuyên lo truyền giáo. Truyền thống kể lại rằng chính tại nhà này, Đa Minh đã cầu nguyện bằng phương cách sắp xếp những ý tưởng Thánh Kinh thành một chuỗi giúp cho ngay cả người đơn sơ cũng có thể lãnh hội được. Đây là bước khởi nguồn của tràng hạt Mân Côi sau này.

Chuyến đi của đức giám mục và của Đa Minh thành công tốt đẹp. Hai vị trở về báo Tin Mừng cho nhà vua và chuẩn bị hôn lễ. Nhà vua lại cử đức giám mục và Đa Minh lên đường đón công chúa cho hoàng tử của mình, nhưng lần du hành thứ hai này mang nhiều nét buồn. Hai vị đến hoàng cung đúng lúc nghe tin công chúa mới lìa đời. Sau đó hai vị cùng sang Roma thăm giáo đô. Cũng nên biết, giám mục địa phận Osma, đức cha Diego, là một nhân vật đạo đức và đặc biệt. Ngài đã làm trưởng hội kinh sĩ tiền nhiệm của Đa Minh. Nhận thấy có nhiều người lạc giáo, khi triều kiến đức giáo hoàng, ngài xin từ nhiệm giám mục để có thêm thời giờ chuyên lo truyền giáo.

Tấm gương sáng càng khiến Đa Minh hăng hái hơn thi hành ước mộng. Tuy nhiên, đức giáo hoàng Innocent III không đồng ý. Ngược lại ngài ủy thác hai vị sang miền Languedoc, hợp lực cùng với các tu sĩ Cistercien chống lại nhóm Albigensê.

Đức cha Diego, ngay khi nhận nhiệm vụ mới, ra lệnh cho các tu sĩ Cistercien phải sống đời khó nghèo. Kết quả trông thấy thực rõ rệt. Số người xin trở lại Công giáo tăng lên rất nhanh. Riêng Đa Minh thì còn dành nhiều thời giờ để tranh luận với nhóm lạc giáo. Không cãi nổi với nền thần học chắc chắn, sự thông thái và lý luận sâu sắc của Đa Minh, những người lạc giáo đe dọa giết ngài.

Không sợ, Đa Minh tiếp tục rao giảng Tin Mừng cách can đảm. Ngài chọn Prouille làm trụ sở chính rồi từ đó đi đến các miền Fanjeaux, Montpellier, Servian, Beziers, và Carcassonne. Chính tại Prouille vào năm 1206 mà thánh nhân đã lập hội dòng nữ Đa Minh đầu tiên. Ngài biết có nhiều phụ nữ nhiệt thành nhưng vì lầm lạc đã theo nhóm Albi. Họ cần được nâng đỡ. Sau khi trở lại, các phụ nữ này đã xây nhà dòng và chuyên giáo dục các trẻ Công giáo. Đây là cơ sở đầu tiên của dòng nhì Đa Minh trên thế giới.

Năm 1208 đáng được coi là năm "bản lề" của Đa Minh. Vào ngày 15 tháng 1, cha Pierre de Castelnau, vị tông tòa dòng Cistercien bị ám sát chết. Thánh Simon de Montfort quyết định mở cuộc thánh chiến chống lại nhóm Albigensê. Riêng Đa Minh thì thương xót những người lạc giáo hơn là ghét bỏ họ. Ngài cũng quyết định mở cuộc thánh chiến nhưng không trên mặt trận võ khí mà trên mặt trận truyền giáo. Chính ngài đã gặp thánh Simon và hai người trở thành bạn thân đến mãn đời.

Lm Đào Quang Chính, OP

9. THÁNH PHỤ ĐA MINH-PHỔ BIẾN KINH MÂN CÔI

Trận thánh chiến rất thành công cho quân đội Công giáo. Các sử gia nói rằng nơi những trận chiến này kinh Mân côi được đọc lần đầu tiên, kinh Mân côi trở thành khí giới thiêng liêng bảo vệ đạo.

Cuộc đời và sự thánh thiện của thánh nhân nổi bật đến độ ba giáo phận xin ngài làm giám mục: năm 1212, địa phận Bezier; rồi địa phận St. Lizier, cuối cùng vào năm 1215 là địa phận Navarre. Nhưng Đa Minh tuyệt đối xin từ chối những vinh dự trên. Tấm gương của đức giám mục địa phận Osma là Diego vẫn còn in đậm trong tâm trí. Ngài nói nếu bị ép làm giám mục, ngài sẽ trốn đi ngay dù trong đêm tối!

Tuy nhiên, không phải lúc nào Đa Minh cũng rao giảng thành công đâu. Vào những năm 1213 và 1214 lịch sử ghi lại ngài truyền giáo tại miền Carcassonne, nhưng rất ít người trở lại và ngược lại bị nhiều chống đối.

10. DÒNG TU MỚI

Đến năm 1214 ngài trở về Toulouse, Pháp quốc. Tại nơi đây ngài thực hành quyết định thành lập dòng tu chuyên lo giảng thuyết. Nổi tiếng đạo đức và khôn ngoan nên nhiều thanh niên ngưỡng mộ tìm đến với ngài. Sau khi đức cha Toulouse cho phép, Đa Minh tập họp những môn đệ đó thành một cộng đoàn. Đến năm 1215, ngài chính thức theo giáo luật thành lập nhà dòng trong giáo phận Toulouse với mục đích truyền bá đức tin và luân lý chân chính. Cũng trong năm này ông Pierre Seilan, một người giầu có miền Toulouse, đi theo thánh Đa Minh. Pierre dâng tặng cho thánh nhân nhiều sở hữu. Nhờ vậy ngày 25 tháng 4 năm 1215, tu viện đầu tiên của dòng được thành lập.

Thoạt đầu, dòng chỉ mang tính cách là "dòng địa phận". Đa Minh mong muốn dòng mới sẽ đi truyền bá Tin Mừng khắp thế giới. May mắn thay, vào tháng 11 năm 1215, công đồng chung tại Roma được triệu tập nhằm mục đích "sửa chữa những đồi phong bại tục, dẹp tan lạc giáo và củng cố đức tin chân chính."

Điều khoản giáo luật số X của công đồng còn khiển trách cách mạnh mẽ một số giám mục đã quên lãng bổn phận rao giảng, và khuyến khích việc ủy thác cho một số vị có khả năng rao giảng lời Chúa. Những lời tuyên bố đó đúng với tôn chỉ dòng Đa Minh. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng, khi công đồng đề nghị "một số vị có khả năng" không có nghĩa là nói đến các linh mục, hoặc cụ thể hơn, các linh mục dòng Đa Minh, một dòng tu còn non trẻ.

Trong khi chân trời mới mở rộng cho Đa Minh, thì một biến cố khác không vui xẩy ra: Công đồng chung cấm việc lập thêm dòng tu mới! Không nản lòng, Đa Minh triệu tập các anh em, thông báo quyết định của đại công đồng. Các tu sĩ Đa minh, cùng đồng ý là, thay vì dùng tu luật mới, thì sẽ theo tu luật thánh Augustino. Cho đến nay, tu luật thánh Augustinô vẫn là tu luật nền tảng của dòng, và các tu sĩ Đa Minh vẫn phải học tu luật thánh Augustinô trước khi học hiến pháp dòng. Tháng 8 năm 1216, Đa Minh xin phép gặp đức giáo hoàng, và ngày 22 tháng 12 cùng năm, đức giáo hoàng chính thức chuẩn y dòng tu có tên hiệu "Dòng giảng thuyết".

Cũng nên nhắc nơi đây câu truyện rất thú vị. Một hôm, đức giáo hoàng trong giấc mơ, thấy đền thờ Latêranô bị nghiêng, thì có hai thanh niên bước đến kề vai nâng đỡ. Buổi sáng cùng ngày, ngài có hẹn gặp hai tu sĩ tên là Đa Minh và Phanxicô. Nhớ lại giấc mơ, nhìn lại khuôn mặt, ngài biết ngay rằng đây là dấu hiệu mà Chúa báo trước cho ngài: hai tu sĩ trẻ này sẽ là người nâng đỡ giáo hội.

Vào thế kỷ 13, đền thờ Lateranô chính là biểu tượng của giáo hội như đền thờ thánh Phêrô thời nay. Trong thời gian ngắn ở tại Roma, đức giáo hoàng cũng nhờ thánh Đa Minh đi giúp tái lập truyền thống nghiêm ngặt nơi các nhà dòng nữ. Đa Minh đã làm cho đức giáo hoàng rất hài lòng trong việc giúp thăng tiến đời sống tinh thần tại các nhà dòng này.

LM ĐÀO QUANG CHÍNH, OP

11. THÁNH PHỤ ĐA MINH- ĐẶC SỦNG CỦA DÒNG


Đến ngày 15 tháng 8 năm 1217, Đa Minh trở về Prouille thông báo Tin Mừng cho các anh em. Ngay sau đó, Đa Minh đưa ra một quyết định được coi là táo bạo: Ngài sai 17 môn đệ đi truyền giáo toàn miền Âu châu và nhất là giảng thuyết tại các trường đại học. Tuy có một số người phản đối, cho rằng các tu sĩ còn quá non trẻ, nhưng thời gian đã cho thấy quyết định của Đa Minh hoàn toàn đúng.

Thứ nhất, ngài tin tưởng các môn đệ của mình; thứ hai Chúa Thánh linh đã không ngừng làm việc nơi 17 tu sĩ Đa Minh đầu tiên, đến nỗi chỉ một năm sau, vào ngày 3 tháng 12 năm 1218, đức giáo hoàng Honorio III viết tông thư giới thiệu dòng cho toàn thể các giám mục, viện phụ, bề trên tu viện, xin các vị nâng đỡ và cùng làm việc chung với anh em trong dòng. Truyền giáo nơi các trường đại học trở thành một đặc sủng của dòng.

Đa Minh muốn các tu sĩ có một trình độ cao về học vấn. Có lẽ hướng đi đó do kết quả thánh nhân thâu thập được khi làm việc tại trường đại học Palencia. Cho đến nay, đây vẫn là một trong những đặc điểm của dòng. Trong thời ban sơ, đa số tu viện đều được thành lập chung quanh trường đại học, vừa để dễ làm việc mục vụ, vừa để dễ cho các anh em đi học. Các trường đại học Paris (Pháp quốc) và Bologna (Tây ban nha) đã là những nơi "thử lửa" đầu tiên của dòng.

Tại Roma, đức giáo hòang Honoriô, thích thú trước những thành công của anh em thuyết giáo, dành tu viện Santa Sabina cho dòng Đa Minh chịu trách nhiệm. Ngày nay Santa Sabina là nhà Mẹ của toàn dòng. Đến năm 1218, trong văn thư ngày 2 tháng 12, đức giáo hoàng còn ủy thác đền thờ Saint Sixtus dưới quyền cai quản của dòng và dành cho Đa Minh chức nghiêm sư thánh điện, tức là nhà thần học của đức giáo hoàng. Dòng Đa Minh giữ chức vụ này cho đến ngày nay.

Vẫn ôm giấc mộng truyền giáo, Đa Minh không muốn vì công việc điều hành mà quên mộng ước. Cuối năm 1218, ngài chỉ định cha Reginal de Orleans làm tổng đại diện, còn mình thì cùng với nhiều anh em đi sang các thành phố khác. Các tu viện đầu tiên của dòng được thành lập tại Bologna, Prouille, Toulouse, Fanjeaux, sau đó tới Lyons, Segovia, Limoges, Barcelona và nhiều thành phố bên Ý...

Tháng 2 năm 1219, đan viện nữ Đa Minh, tức là dòng nhì được thành lập tại Madrid, Tây ban nha. Cũng trong năm đó, đức giáo hoàng Honoriô đã ban cho ngài tước hiệu "Bề trên tổng quyền" hoặc bề trên cả (Master General), là danh xưng mà các vị thừa kế giữ cho đến nay.

Qua năm 1219, nhân đại hội dòng lần đầu ở Bologna, Đa Minh từ chức bề trên tổng quyền để có nhiều thời giờ đi truyền giáo. Đương nhiên, đơn xin bị từ chối. Tuy nhiên, không gì có thể cản trở Đa Minh truyền giáo. Cùng với các anh em dòng, ngài mở nhiều mặt trận: lịch sử ghi lại, qua phép lạ và lời giảng dậy, Ngài đã chinh phục hơn 100,000 người trở lại cùng Chúa.

Theo cha Lacordaire thì tại Lombardy, Đa Minh đã thành lập hội "Đạo Binh Chúa Giêsu" (Militia of Jesus Christ), tức là huynh đoàn Đa Minh hoặc dòng ba Đa Minh bây giờ. Trước những thành công liên tục, vào năm 1221, ngài một lần nữa phải triệu tập công đồng chung toàn dòng lần thứ 2 tại Bologna. Sau đó ngài đi thăm đức hồng y Ugolino, một ân nhân của dòng.

Trên đường trở về lại Bologna, Đa Minh bị bệnh, và sau ba tuần chịu đựng cách can đảm, thánh nhân qua đời giữa các anh em. Ngay sau khi qua đời, nhiều người đã đến cầu khấn cùng ngài. Mười ba năm sau, đức giáo hoàng Gregorio, vào ngày 13 tháng 7 năm 1234 tuyên dương ngài lên bậc hiển thánh.

LM Đào Quang Chính, OP

12. THÁNH PHỤ ĐA MINH-LINH ĐẠO CỦA THÁNH ĐA MINH

"Contemplare, contemplata aliis tradere". Bên cạnh việc truyền giáo qua giảng thuyết, Đa Minh nổi tiếng vì linh đạo đặc biệt của ngài. Linh đạo này là "hãy chiêm niệm và mang kết quả của sự chiêm niệm đó đến cho tha nhân". Như chúng ta đã biết, dòng Đa Minh là một hội dòng "pha", nghĩa là vừa hoạt động, vừa chiêm niệm. Trước đó, các linh mục triều hướng nhiều về hoạt động; còn linh mục dòng khổ tu thì theo tiến trình:

"Học tập - cầu nguyện - chiêm niệm - (trở về) học tập". Đa Minh đề ra phương cách mới: "học tập - cầu nguyện - giảng thuyết - chiêm niệm - (trở về) giảng thuyết - học tập".

Linh đạo này về sau được thánh Thomas khai triển và trở nên nổi tiếng với câu châm ngôn "Contemplare, contemplata aliis tradere." Sống đúng theo câu châm ngôn trên, cuộc đời của thánh Đa Minh được giáo hội ca tụng là ngài chỉ "nói với Chúa, về Chúa và trong Chúa." Làm sao một người có thể làm được như vậy? Chúng ta có thể làm được không? Được.

Tất cả những gì Đa Minh thấy trên đường rao giảng đều là phương tiện ca tụng Chúa, để chiêm niệm và chia sẻ sự chiêm niệm đó cho tha nhân. Ở trên chúng ta đã biết, sách Phúc Âm ngài thường mang theo là sách của thánh Matthêu. Như Matthêu thuật lại nhiều chi tiết về cuộc đời của Chúa Giêsu, thì Đa Minh cũng thấy mọi biến cố trong cuộc sống, đều là phương cách giúp chiêm niệm và rao giảng Tin Mừng.

Lòng nhiệt thành với việc rao giảng Tin Mừng của Đa Minh mạnh đến nỗi trong tông thư tuyên dương hiển thánh cho ngài, đức giáo hòang Gregory đã tuyên bố rằng không ai ngạc nhiên gì về sự thánh thiện của Đa Minh đáng nêu gương cho mọi người như sự thánh thiện của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô!

Lậy Cha Thánh Đa Minh, xin cầu cho chúng con.

LM Đào Quang Chính, OP

13. CHUỖI MÂN CÔI VÀ THÁNH ĐA MINH


Bà Jane ở Aza thánh thiện đến nỗi chiếu sáng như những vì sao trên bầu trời ban đêm. Bà sinh năm 1140, sống ở một lâu đài tại Tây Ban Nha với chồng là Felix, một người được kính trọng với chức hiệp sĩ. Bà là một phụ nữ hay thương người, đầy lòng trắc ẩn với những người kém may mắn, và giúp đỡ vật chất cho người nghèo.

Bà Jane có 2 con trai là Mannes và Anthony, nhưng bà muốn con thêm nhiều con. Một hôm, bà tới tu viện Silos để cầu xin có thêm một con trai nữa, xin Dòng Silos cầu nguyện giúp bà. Một tu sĩ Dòng Đa Minh nói: “Này chị, lời cầu của chị đã được nghe và Thiên Chúa sẽ ban cho chị một người con trai. Người con đó sẽ là tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa và có thể làm nhiều điều phi thường cho Chúa Kitô và Giáo hội”.

Khi tạ ơn, bà Jane đặt tên cho con trai là Dominic (Đa Minh).

Trước khi sinh con, bà Jane đã có giấc mơ tiên tri linh cảm việc giảng thuyết mà thánh Đa Minh, trong hình con chó trắng đen, chạy đi với ngọn đuốc sáng ngậm ở miệng, thắp sáng khắp thế giới. Bà Jane sinh bé trai Đa Minh tại Calaroga, thuộc Old Castile, năm 1170. Khi Đa Minh được rửa tội tại nhà thờ xứ, mẹ đỡ đầu của ngài cũng thấy ánh sáng chói lọi, nhìn như ngôi sao, trên lông mày của bé Đa Minh. Lúc đó Đa Minh được tiền định là một luồng sáng, một người sẽ soi sáng những người ở trong bóng tối.

Thánh Đa Minh được trông mong nhiều, nhưng ngài không làm thất vọng. Ngài là một thanh niên thông minh, vui vẻ, có chiều cao trung bình, điển trai, diện mạo khá hồng hào, có tiếng nói ấm và vang. Ngài thừa hưởng ở người mẹ lòng súng kính Đức Mẹ, biết giá trị của việc kết hợp việc cầu nguyện bằng lời và bằng tâm linh, nghe biết những câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu mà ngài biết đó là những mầu nhiệm, và ngài sẽ rao giảng.

Thánh Đa Minh tận hiến cho Thiên Chúa, trở thành linh mục và phục vụ 9 năm ở Osma, sống theo tu luật thánh Augustinô. Có lòng trắc ẩn trước nỗi đau khổ của người khác, ngài cầu nguyện và khóc thương những người tội lỗi và những người đau khổ. Ngài được nhiều người yêu mến và kính trọng.

Năm 1203, lúc 33 tuổi, ngài rời Osma đi thành phố Fanjeaux thuộc vùng Languedoc, miền Nam Pháp quốc, tại đây ngài giảng đạo gần 13 năm. Trong những hành trình tông đồ, ngài thường dừng lại để cầu nguyện ở Nguyện đường Maria ở Prouille, một làng nhỏ nằm giữa Fanjeaux và Montreal, không xa núi Pyrenees.

Công việc của ngài không hề dễ dàng. Lúc đó, Pháp quốc bị tà thuyết An-bi-gen đe dọa. Những người theo tà thuyết này cho rằng sự sống trên trái đất là công việc của ma quỷ. Niềm tin này sản sinh một nền văn hóa sự chết khủng khiếp. Những người theo tà thuyết này từ bỏ tính thánh thiện của hôn nhân và sự sinh sản con cái. Việc tự tử được khen ngợi vì nó chấm dứt vấn đề hiện hữu. Những người theo tà thuyết này hoàn toàn bác bỏ các giáo huấn của Giáo hội, kể cả mầu nhiệm Nhập thể.

Mọi thứ có vẻ không suôn sẻ, khi thánh Đa Minh cầu nguyện và khóc ở Nguyện đường Đức Maria năm 1208, ngài than thở với Đức Mẹ về việc thiếu kết quả của việc rao giảng cho những người theo tà thuyết An-bi-gen. Đang lúc đó thì Đức Mẹ hiện ra với ngài. Đức Mẹ nói:

“Đừng lo, đến nay con đã đạt được một ít kết quả như vậy nhờ sức lao động của con. Con phải dùng kết quả đó trên vùng đất khô cằn, chưa được tưới bằng sương hồng ân. Khi Thiên Chúamuốn canh tân bộ mặt trái đất, Ngài sẽ bắt đầu bằng cách cho mưa tuôn sự chào đón của thiên thần (rain of the Angelic Salutation). Hãy truyền bá Chuỗi Mân Côi gồm 150 câu chào của sứ thần và 15 kinh Lạy Cha, con sẽ bội thu”.

Thánh Đa Minh không có thời gian. Theo mệnh lệnh của Đức Mẹ, ngài bắt đầu truyền bá Chuỗi Mân Côi, bắt đầu từ Toulouse, một thành phố không xa Prouille. Theo ghi chép của thánh Louis Montfort, một nhà truyền giáo người Pháp hồi thế kỷ 18, thánh Đa Minh đã tới nhà thờ, nơi các thiên thần rung chuông mời gọi mọi người. Khi thánh Đa Minh rao giảng, Thiên Chúa đã hỗ trợ: Trái đất rung chuyển, mặt trời tối sầm, sấm chớp dữ dội. Hầu như cả dân thành Toulouse đều bỏ niềm tin lầm lạc và bắt đầu sống đời Kitô hữu.

Sau thành công tại Toulouse, thánh Đa Minh đi từ thành phố này tới thành phố khác ở Pháp quốc, Tây Ban Nha và Ý để truyền bá Kinh Mân Côi. Trên hành trình, ngài tỏ ra rất chịu đựng, đến nỗi những người đương thời diễn tả ngài là “vận động viên mạnh mẽ”. Sức chịu đựng của ngài gây ấn tượng. Bất cứ đi đâu ngài cũng rao giảng chân lý Phúc âm tập trung vào cuộc đời vui mừng, sầu thương, và vinh quang của Đức Kitô. Nói đến một mầu nhiệm và giảng một câu về đời sống của Chúa Giêsu, ngài mời người nghe lần một hạt trong chuỗi hạt – thường được dùng để đếm các lời cầu nguyện – rồi đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng, các yếu tố của đức tin vẫn nhắm vào những người theo tà thuyết An-bi-gen.

Chú ý những lời đầu tiên Đức Mẹ nói với ngài, và một lần Chúa Giêsu hiện ra hướng dẫn ngài khơi lòng người ta yêu mến cầu nguyện trước khi giảng thuyết chống lại tội lỗi, thánh Đa Minh và các linh mục khác đều đọc kinh Kính Mừng chung với giáo dân trước khi giảng thuyết để xin Ơn Chúa. Ngài giải thích rằng kinh Kính Mừng chứa đầy các ví dụ về cuộc sống hàng ngày.

Phương pháp đó tác dụng. Hầu như ở các thành phố ngài rao giảng, ngài đều thành lập Hội ái hữu Mân Côi (Confraternity of the Rosary). Thánh Montfort nói rằng các giáo huấn của thánh Đa Minh tạo sự nhiệt thành đến nỗi hoán cải được những người tội lỗi chai lỳ nhất. Thánh Montfort viết rằng một người đàn ông bị ma quỷ chiếm hữu đã kêu lớn tiếng rằng lời rao giảng của thánh Đa Minh đã làm hoảng sợ cả hỏa ngục. Chuỗi Mân Côi cũng được tin là tạo chiến thắng của đội quân Công giáo do Count Simon de Montfort dẫn đầu, trong trận Muret hồi tháng 9-1213 ở miền Nam Pháp quốc, gồm 800 binh sĩ chống lại vua Aragon và 40.000 quân của tà thuyết An-bi-gen.

Năm 1215, thánh Đa Minh thu hút 6 người bạn cùng làm việc tông đồ và cho họ mặc trang phục như ngài. Đó là một dòng tu đang hình thành với chương trình cầu nguyện, sống chung, và chương trình học tập với Alexander Stavensky, tiến sĩ thần học người Anh. Rao giảng, dạy dỗ, và làm việc để cứu các linh hồn là lý tưởng của thánh Đa Minh. Một người giàu có tên là Phêrô Siela đến xin theo thánh Đa Minh, giao cho ngài nhà cửa của mình ở gần Narbonne Gate tại Toulouse. Cũng trong năm 1215, thánh Đa Minh đi Rôma và quỳ trước mặt ĐGH Innocent III để xin phê chuẩn Dòng Anh Em Thuyết Giáo (OP – Order of Preachers).

ĐGH hướng dẫn ngài dùng tu luật hiện có để sống theo. Thánh Đa Minh và các tu sĩ đồng ý chọn tu luật của thánh Augustinô. Ngày 22-12-1216 có tân giáo hoàng là ĐGH Honoriô III, ngài đã phê chuẩn và tuyên bố thánh Đa Minh là “ánh sáng thật của thế giới này”. Ước mơ từ lâu của chân phước Jane, mẹ của thánh Đa Minh, đã thành hiện thực: Con trai bà đã thắp lửa sáng khắp thế giới.

14. THÁNH THI HAY CHUÔI MÂN CÔI?


Trong thời thánh Đa Minh, Chuỗi Mân Côi được nhắc tới như “Thánh thi của Đức Maria”, và mãi tới thế kỷ 15 Chuỗi Mân Côi mới được sử dụng. Nhưng 100 năm sau khi thánh Đa Minh giới thiệu Chuỗi Mân Côi, người ta vẫn không hề nhớ tới.

Chữ ros có thể lấy từ tiếng Latin, nghĩa là “sương”, ám chỉ lời Đức Mẹ nói với thánh Đa Minh về “sương hồng ân” hoặc do tiếng Latin là rosarium, nghĩa là “triều thiên hoa hồng” – từ ngữ “Chuỗi Mân Côi” (Rosary) có sau khi Lm Alan de la Roche, Dòng Đa Minh, người Pháp, được thị kiến Chúa Giêsu, Mẹ Maria, và thánh Đa Minh khuyến khích ngài khôi phục Chuỗi Mân Côi.

Dạng Chuỗi Mân Côi như chúng ta thấy ngày nay cũng không có trong thời thánh Đa Minh. Việc thêm các mầu nhiệm đã mất nhiều thế kỷ để chỉnh sửa và xác định. Thánh GH Piô V, cũng là tu sĩ Dòng Đa Minh, đã làm điều này năm 1569. Ngày 16-10-2002, chân phước GH Gioan Phalô II đề nghị thêm 5 Mầu nhiệm Sự Sáng vào Chuỗi Mân Côi truyền thống. Gọi là “Mầu nhiệm Sự Sáng” vì gồm các mầu nhiệm trong sứ vụ công khai của Chúa Kitô từ khi chịu Phép Rửa tới Cuộc Khổ Nạn.


15. Tặng phẩm của Scapular, Áo Đức Bà


Năm 1218, tại Rôma, Đức Mẹ hiện ra với một tu sĩ Dòng Đa Minh là Master Reginald, ở Orleans, là giáo sư nổi tiếng về giáo luật tại ĐH Paris trước khi gặp thánh Đa Minh và gia nhập dòng này. Các bài giảng thuyết của ngài đã thu hút nhiều người vào dòng. Lúc Đức Mẹ hiện ra, Reginald bị bệnh. Mỉm cười với ngài, Đức Mẹ xức dầu co ngài, chữa bệnh cho ngài, và giới thiệu với ngài một áo dòng trắng (scapular). Đức Mẹ nói: “Đây là áo dòng của con”.

Tại sao lần Chuỗi Mân Côi? Thế kỷ 15, Lm Alan de la Roche, OP, bảo đảm Chuỗi Mân Côi là nguồn vô biên của các phúc lành:

1. Tội nhân được tha thứ.
2. Linh hồn nào khao khát sẽ được thỏa khát.
3. Ai khổ sầu sẽ tìm thấy hạnh phúc.
4. Ai bị cám dỗ sẽ được bình an.
5. Người nghèo được giúp đỡ.
6. Tu sĩ được canh tân.
7. Ai không hiểu biết sẽ được hướng dẫn.

Về Chuỗi Mân Côi, chân phước GH Gioan Phaolô II nói:

“Lần Chuỗi Mân Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Đức Mẹ”.

Khi sinh thời, thánh Đa Minh đã chữa lành các bệnh nhân, phục sinh người chết, và biến lương thực ra nhiều (các phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra cho đến sau khi ngài qua đời). Ngài khuyến khích người trẻ và trìu mến với những người mà ngài gặp.Dù ngài già theo thời gian, nhưng tâm hồn ngài vẫn trẻ trung và vui vẻ. Sau khi dòng được phê chuẩn 5 năm, thánh Đa Minh qua đời ngày 6-8-1221 tại Bologna, Ý.

Ngay khi hấp hối, ngài vẫn an ủi người khác. Ngài nói: “Anh em đừng khóc. Tôi sẽ có ích hơn cho anh em dù tôi đi bất cứ nơi đâu, có ích hơn khi tôi sống trên đời. (Trầm Thiên Thu)

16. THÁNH ĐA MINH

Tại thành Carcassone nước Pháp, thời thánh Đaminh còn sống, có một chàng thanh niên khô đạo, lại kiêu ngạo khinh chê kinh Mân côi mà Đức Mẹ đã truyền dạy thánh Đaminh khuyên dạy mọi người lần hạt.


Chúa đã để cho chàng thanh niên đó bị quỉ nhập, chàng bị vật vã đau đớn. Người nhà dẫn hắn đến xin thánh Đaminh trừ quỉ ra.
Thánh Đaminh dạy đưa hắn đến nhà thờ, và trước mặt đông người, ngài hỏi:


-Trên trời, không kể Thiên Chúa Ba Ngôi, còn có ai mày sợ hơn cả?

Quỉ khóc tru trếu không chịu nói, nó xin chỉ nói nhỏ với một mình thánh nhân thôi.


Thánh nhân không chịu, Ngài sấp mình nài xin Đức Mẹ bắt quỉ nói ra công khai. Quỉ miễn cưỡng nói:

- Chúng tôi là những kẻ dối trá, đừng tin chúng tôi, hãy hỏi các thiên thần chỉ bảo cho.

Thánh nhân lại sấp mình xuống nữa nài xin Đức Mẹ. Đức Mẹ hiện đến cầm roi đánh quỉ, bắt nó phải xưng thật ra cho mọi người nghe. Nó liền hằn học thú nhận:


- "Hỡi mọi người hãy nghe đây: Bà Maria là Mẹ Đức Chúa Trời, Bà có quyền phép bảo vệ kẻ nào kính mến Bà khỏi sa hỏa ngục. Ai tôn sùng Bà thật lòng thì thoát khỏi tay chúng tao. Mỗi lời Bà ấy xin cùng Chúa thì hiệu quả hơn mọi lời cầu của các thánh. Ai sắp mất linh hồn sa hỏa ngục mà kêu tên Bà Maria thế nào cũng được cứu giúp. Nếu không có Bà Maria, thì chúng tao đã phá hủy đạo Chúa từ lâu rồi. Bà ấy ban cho kẻ SIÊNG NĂNG LẦN HẠT MÂN CÔI được khỏi mọi sự dữ, được ăn năn thống hối mọi tội lỗi, và được về thiên đàng".


(Tháng Đức Bà,Hiện Tại xb, tr. 33) (Những Ơn lạ Mẹ ban tập I, số 50 trang 53)


Kim Hà, www. memaria.org.



Kim Hà sưu tầm, 2021