Friday, May 27, 20227:58 AM(View: 14)
Nguồn: Spiritdaily.com Tác giả Frank Hammond nói rằng: "Việc chữa lành thể xác và giải thoát tâm linh đều là do Chúa Giêsu thực hiện, nhất là việc xua trừ ma quỷ và kẻ dữ."
Thursday, May 26, 20224:19 PM(View: 22)
Nguồn: Internet Thánh Philip luôn có lòng sùng kính đối với các linh hồn luyện ngục. Ngài dạy dỗ các tu sĩ của ngài rằng: -Hãy luôn cầu nguyện cho các linh hồn luyện ngục.
Thursday, May 26, 20223:01 PM(View: 14)
Nguồn: Internet 3. Thánh Philip được nhận một vết thương là Lửa Tình Yêu Thánh Philip Neri có một cảm nghiệm thiêng lieeng, giống như cảm nghiệm của Thánh Padre Pio, Thánh Teresa thành Avila và Thánh Gioan Thánh Giá. Đó là lửa đốt cháy Trái tim của họ. Họ thấy một thiên thần đâm thâu trái tim của họ. Trong suốt cuộc sống còn lại, họ đưọc cháy lửa tình yêu của Chúa.
Thursday, May 26, 20221:59 PM(View: 18)
Nguồn: Internet 2. Thánh Philip đến thành phố Roma Ngài đi đến Roma mà không mang theo một thứ gì bên mình cả. Khi đến đó, ngài được một vị Bá Tước cũng đến từ vùng Florence, cho ngài được ăn ở trong nhà ông ta.
Thursday, May 26, 20221:09 PM(View: 16)
Nguồn: Internet 1. Tông đồ tại thành phố Roma Trong thời đại của Thánh Philip thì giáo hội ở thời điểm rất khó khăn. Các lãnh chúa trở nên hoàng tử của các vùng đất. Nền văn hoá trở nên thế tục và ngoại giáo.
Thursday, May 26, 202212:13 PM(View: 13)
Nguồn: Internet Trái tim của Thánh Philip Neri được nở to ra một cách kỳ diệu. Các bác sĩ làm thử nghiệm và xác nhận rằng trái tim của ngài đã nở to ra sau khi ngài lãnh nhận các đặc sủng của Chúa Thánh Thần.
Thursday, May 26, 202211:36 AM(View: 15)
Nguồn: Internet Hôm nay, 26/5.2022, Hội Thánh mừng lễ Thánh Philip Neri. Ngài nổi tiếng là làm nhiều phép lạ khi ngài còn sống. Ngài được ơn lưỡng tại, tức là xuất hiện cùng lúc ở hai nơi khác nhau.
Monday, May 23, 202212:20 PM(View: 52)
Một nữ tu chia sẻ: "Có một trường hợp là người vợ ngoại tình nhưng người chồng không làm lớn chuyện. Anh ta không tìm giết tình địch mà anh ta cắn răng để cho người vợ đi theo người tình của chị ta. Anh còn có hai người con nhỏ, đứa lớn phải chăm sóc cho đứa nhỏ. Giờ ăn trưa, anh ta đi về nhà để thay tã cho con và cho con bú sữa.
Monday, May 23, 202212:10 PM(View: 38)
Một nữ tu chia sẻ: "Cách đây khoảng hơn 10 năm, lúc đó chưa có cell phone, vào khoảng 10 giờ đêm bỗng chuông điện thoại của nhà Dòng tôi reo lên thật to. Tôi vội vàng bốc phone lên thì ra đó là cú điện thoại của một thanh niên đang dạy giáo lý cho nhà Thờ St. Barbara. Anh ta kể lể:
Monday, May 23, 202211:06 AM(View: 41)
Như đã có đôi lần tôi kể thì bắt đầu từ ngày 17/3/2020, vì có nạn dịch COVID-19 hoành hành trên nước Mỹ và trên thế giới, nhà thờ chúng tôi đóng cửa, mọi người tham dự Thánh Lễ qua youtube...

LỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY CHÚA NHẬT TUẦN XXXI THƯỜNG NIÊN, NĂM B SỐNG LỜI CHÚA TIN MỪNG : Mc 12,28b-34

Sunday, October 31, 20217:08 AM(View: 158)

31-10aLỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

CHÚA NHẬT TUẦN XXXI THƯỜNG NIÊN, NĂM B

SỐNG LỜI CHÚA

TIN MỪNG : Mc 12,28b-34

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngươi phải yêu người thân cận.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

SUY NIỆM-YÊU

Cha Maheu, người sáng lập trại phong Quy Hoà (Quy Nhơn), là một linh mục người Pháp. Cha đã dấn thân phục vụ người cùi, chọn họ là con cái yêu quý, sống giữa họ nơi làng cùi để đêm ngày săn sóc họ, lo cho họ đầy đủ vật chất cũng như tinh thần. Lòng yêu mến Thiên Chúa được cha thể hiện cụ thể bằng việc yêu thương những người bé mọn vị bỏ rơi này. Rồi, cha cũng mắc bệnh phong và được an nghỉ giữa những người con thân yêu nhất của cha.

Bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến việc một kinh sư đến hỏi Đức Giêsu về giới răn nào là quan trọng nhất. Đức Giêsu đã tóm gọn tất cả lề luật vào hai điều, đó là yêu mến Chúa và yêu thương con người. Hai điều răn này liên kết chặt chẽ với nhau vì cùng xuất phát từ tình yêu. Mến Chúa một cách tuyệt đối thì cũng phải hết lòng yêu thương tha nhân.

Trong đời sống gia đình, đời sống xã hội hôm nay, con người dùng quá nhiều luật mà quên đi luật lòng mến. Mến Chúa yêu người, là luật nền tảng căn bản để người Kitô hữu sống và trở nên một người Kitô hữu đích thực. Lời Chúa hôm nay là một lời thúc giục chúng ta nhìn về cuộc sống của mình trước những đòi hỏi của hai giới răn quan trọng nhất này. Trong bậc thang giá trị đời sống của mỗi người, chúng ta đang ưu tiên cho điều gì nhất? Bổn phận đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân đang ở vị trí nào so với tiền bạc và danh lợi của chúng ta?

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết thực thi Lời Chúa dạy bằng hành động cụ thể, hầu mọi người có thể nhận ra chúng con là con cái Chúa. Amen.

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO

KHUÔN MẪU THÁNH THIỆN THEO ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Trích Thời sự Thần học – Số 93, tháng 08/2021, tr. 122-144

Ivan Salvadori

Tiếp tuần trước (Chúa Nhật XXX Thường Niên)

3– Noi theo tinh thần Bát phúc

Trong chương III, sau khi đã phác họa những chỉ số của sự thánh thiện Kitô giáo cũng như cảnh báo những méo mó của nó, văn kiện đi vào câu hỏi trọng tâm : làm thế nào để nên thánh? Câu trả lời khá đơn giản : hãy thực thi các mối phúc thật. Câu trả lời dựa trên một tiền đề của thánh Inhaxiô, đó là : sự thánh thiện được thực hiện khi ta diễn tả trong thân mình những lựa chọn và thái độ của Đức Kitô. Nếu Chúa Giêsu đã sống theo tinh thần các chân phúc, thì người tín hữu cũng phải làm như vậy.

Do đó con đường nên thánh khởi đi từ việc chiêm ngắm những mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô và từ đó rút ra những quy tắc thực hành. Trong chương này, ĐTC nêu bật rằng Kitô giáo là một tôn giáo thực tiễn. Hiểu biết và suy nghĩ về đạo thì chưa đủ, còn cần phải đưa ra hành động. Chính nhờ hình thái này – nghĩa là các chân phúc – mà làm lộ rõ căn tính Kitô giáo, khác biệt với những khuôn thước hành động của thế gian.

Nhờ vậy, linh đạo Kitô giáo mang theo ít là hai đặc điểm. Một là tránh được việc tách rời sự cầu nguyện khỏi hành động. Thứ hai, nó cung cấp cho các Kitô hữu một phương án sánh đôi với lối lý luận của thế gian, bởi vì các chân phúc đi ngược với những điều mà thế gian tin tưởng ; chúng mang tính cách trái ngược với thói đời. Chỉ cấn lấy một thí dụ để làm sáng tỏ điều ấy : nếu thế gian tuyên bố rằng hạnh phúc nằm ở chỗ giàu sang phú quý, thoả mãn chính mình, thì ngược lại, chân phúc đề cao rằng sự nghèo khó là một tài sản còn quý giá hơn nữa bởi vì nó mở cửa trái tim cho Thiên Chúa ngự vào (GE 67-70). Trong chương này, ĐTC điểm qua tất cả và từng chân phúc, và chú giải từng điều một cách thẳng thắn.

4- Vài đặc trưng của sự thánh thiện trong thế giới hôm nay

Chương IV khá độc đáo bởi vì tìm cách du nhập ý tưởng về sự thánh thiện vào thế giới hôm nay. ĐTC nêu bật năm đặc điểm đáng chú ý vào thời đại chúng ta, được coi như « năm cách biểu lộ tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân » (GE 111). Tôi xin liệt kê vắn tắt từng điểm một.

(a) Cương quyết nội tâm. Có nghĩa là đứng vững trong Chúa, cương quyết chấp nhận những nghịch cảnh và thăng trầm của cuộc sống, kể cả những cuộc tấn công về phía người khác. Đó là sự trung tín với tình yêu, không thay đổi, và cứ ở lại bên cạnh tha nhân, cho dù điều này không mang lại sự thích thú gì.

(b) Vui tươi và biết khôi hài. ĐTC viết rằng « thánh nhân có khả năng sống vui tươi và có óc khôi hài » (GE 122). Bài học này lấy từ thánh Tôma Aquinô ; trong sách Tổng luận thần học, tác giả viết rằng hoa trái của đức mến là niềm vui, bởi vì người yêu luôn vui thích vì được kết hiệp với kẻ được yêu[21]. Tuy dù trong cuộc đời người Kitô hữu có thể có những lúc cam go và những thời của thánh giá, « nhưng không gì có thể tiêu hủy niềm vui siêu nhiên » (GE 125). Tật rầu rĩ không phải là dấu hiệu của thánh thiện. Chúa muốn cho chúng ta « tích cực, biết ơn và đừng quá phức tạp » (GE 127).

(c) Bạo dạn. Tính bạo dạn cũng là thành phần của sự thánh thiện. Tân ước dùng danh từ parrhesia, ám chỉ thái độ can đảm thúc đẩy các thánh tông đồ loan báo Đức Giêsu Kitô giữa những nghịch cảnh. Không có sự thánh thiện Kitô hữu chân chính nếu thiếu nhiệt tình. Những người loan báo Tin mừng mà buồn rầu và chán chường thì chẳng loan báo được gì cho ai hết[22]. « Giáo hội không cần nhiều công chức quan liêu, nhưng cần những thừa sai hăng hái, say mê thông truyền sự sống chân thực » (GE 138).

(d) Cộng đồng. Đây cũng là một đặc trưng của Kitô giáo, bởi vì, theo Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu đã ước mong sao cho “tất cả được nên một” (Ga 17,21).

(e) Cầu nguyện liên tục. Đặc tính cuối cùng của sự thánh thiện là cầu nguyện bền vững. ĐTC nhắc lại rằng « sự thánh thiện hệ tại ở chỗ thường xuyên mở rộng đến cõi siêu việt ; điều này được diễn tả qua sự cầu nguyện và thờ lạy. Thánh nhân là một con người có tinh thần cầu nguyện, có nhu cầu đàm đạo với Thiên Chúa » (GE 147).

Duy chỉ trong thinh lặng, ta mới có thể phân định những con đường thánh thiện mà Thiên Chúa đề ra cho ta (GE 150). Đối với mỗi người môn đệ, họ không thể nào không đến bên cạnh Thầy, lắng nghe và học hỏi Thầy. Cần nói thêm rằng việc cầu nguyện không khiến cho chúng ta xa cách lịch sử. Nếu Thiên Chúa muốn đi vào lịch sử, thì lời cầu nguyện của chúng ta cũng cần được đan dệt với việc nhớ lại những gì mà Chúa đã làm cho chúng ta. Như tông huấn nhắc nhở ở số 154, thánh nhân phải là « người bạn hữu của các anh em mình, hằng cầu nguyện nhiều cho dân chúng » (2Mc 15,14).

5- Đời sống Kitô hữu như cuộc chiến đấu

Chương cuối cùng của tông huấn đề cập đến cuộc chiến đấu tinh thần, với tưa đề : « Đời sống Kitô hữu là một cuộc chiến đấu liên miên » (GE 158). Bởi vì việc thuộc về Đức Kitô mang tính cách toàn diện triệt để, cho nên cuộc chiến đầu tinh thần nằm trong cuộc sống Kitô hữu, nghĩa là chiến đấu chống lại tất cả những gì ngăn cản Đức Kitô trở nên trung tâm của cuộc đời : tư tưởng, tâm tình, hành động.

Tuy là một đề tài cổ điển của thần học tâm linh Kitô giáo, nhưng nó đã bị lãng quên trong những thập niên gần đây[23]. Thời nay, ít người nói đến đời sống tâm linh, nghĩa là đời sống tương quan chặt chẽ với Thiên Chúa. Đề tài chiến đấu tinh thần lại càng hiếm khi được nhắc đến : đây là một thứ kỷ luật khắt khe, nhưng trên thực tế giúp cho con người sống tự do đích thực, khi dám quyết định « Có » hay « Không » theo sự xác tín, chứ không phải bị lôi cuốn bởi những luận điệu tuyên truyền. Dù sao, việc làm môn đệ Đức Kitô luôn bao hàm một lựa chọn quyết liệt, chứ không phải là một tư thái an nhàn. Sự lựa chọn đòi hỏi phải xác định lập trường, và điều này đưa đến một cuộc chiến đấu chống lại ba kẻ thù, theo lời ĐTC Phanxicô.

(a) Chiến đấu chống lại sự giòn mòng của bản thân. Kẻ thù thứ nhất là tính giòn mỏng của ta, những xu hướng, tựa như tật lười biếng, ghen tương, v.v… Như vậy, cuộc chiến đấu trước tiên là chống lại chính mình. Chiến trường không phải ở ngoài ta, nhưng là ở trong trái tim, được hiểu như là trung tâm của những quyết định, tư tưởng, tình cảm, ước muốn. Khi Kinh thánh nói đến trái tim thì cần hiểu về nơi thâm sâu nhất của ta, nơi mà ta khẳng định cái « bản ngã » của mình. Trong một bài giảng tuyệt vời, ông Origène nói như sau « Ta phải chiến đấu ngay trong mình, bởi vì kẻ thù phát xuất từ trái tim của mình. Điều đó không phải là do tôi nói mà chính Chúa Giêsu : Từ trái tim mà phát sinh những ý tưởng xấu xa, sát nhân, dâm ô, trộm cắp, làm chứng gian, lộng ngôn (Mt 15,19) »[24]. Thật vậy, trái tim là nơi diễn ra sự cộng lực giữa thần trí Thiên Chúa (Thánh Linh) và trần trí con người.

(b) Chiến đấu chống lại thế gian và não trạng thế gian. Người tín hữu không chỉ giao tranh chống lại sự mỏng giòn của mình, mà còn chống lại « thế gian và não trạng của thế giới lừa gạt ta, khiến cho chúng ta đâm ra u mê, tầm thường, thiếu dấn thân và không có niềm vui » (GE 159). Chúng ta đang sống trong một thế giới bé nhỏ như một ngôi làng, và được thông tin về tất cả những gì xảy ra trong đó. Chúng ta ý thức hơn rằng con người sống nhờ các mối tương quan. Thực ra điều này không hoàn toàn mới lạ, bởi vì các tín hữu của những thế kỷ đầu tiên đã ý thức rằng mình sống trong xã hội chứ không cô lập :

Người Kitô hữu không khác người ta về xứ sở, ngôn ngữ và tập quán (…) Họ ở trong các thành phố văn minh cũng như bán khai, tùy theo số phận mỗi người đưa đẩy. Họ theo tập quán của dân địa phương trong cách ăn mặc và trong lối sống, mà vẫn cho thấy một nếp sống lạ lùng và ai cũng phải nhận là khó tin[25].

Đàng khác, chỉ cần nhớ rằng Chúa Giêsu không chỉ « đến trong thế gian » mà còn phái các môn đệ “đi khắp các nẻo đường » (Mt 22,9), trong cánh đồng bao la của thế gian. Tuy nhiên, thế gian vừa là nơi gặp gỡ trao đổi cũng vừa có thể là nơi gài cạm bẫy. Trước hết thế gian là nhân loại mà Thiên Chúa đã yêu thương và ban Con Một của Người (x. Ga 3,16-17), nhưng thế gian cũng có khả năng làm cho chúng ta đi trệch hướng do những lý luận và lối sống không luôn luôn phù hợp với Tin mừng.

(c) Chiến đấu chống lại ma quỷ. Sau cùng, chúng ta đừng quên rằng người Kitô hữu còn phải giao tranh với ma quỷ, thủ lãnh của sự dữ (GE 159). Trong thư gửi các tín hữu ở Êphêsô, thánh Tông đồ đã viết : « Cuộc chiến của chúng ta không phải chống lại phàm nhân, mà với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao » (Ep 6,12). Vì lý do ấy, sức lực chúng ta không đủ khả năng nếu không được yểm trợ bởi quyền năng đến từ Thiên Chúa. Một cách gián tiếp, thánh Phaolô cung cấp cho chúng ta một tiêu chuẩn để đọc các thực tại : ai tưởng rằng người môn đệ cần phải chiến đấu trên một bình diện nhân sinh – hoặc tự nhiên –, thì quả là nông nổi, bởi vì không ý thức rằng cuộc giao tranh cuối cùng, mà Giáo hội phải đương đầu, nằm trên bình diện siêu nhiên.

Nói cách khác, nếu chúng ta giới hạn việc quan sát thực tại duy chỉ dưới nhãn quan của con người, với tiêu chuẩn thực nghiệm, thì sẽ mắc nguy cơ (mà nhiều nhà thần học cũng rơi vào) là phủ nhận sự hiện hữu của ma quỷ, cho rằng đó chỉ là một huyền thoại, một biểu tượng của sự dữ ở trong ta. Nhưng nếu làm như vậy thì ta sẽ không giải thích được vì sao sự dữ lại có một sức tàn phá ghê gớm đến thế.

Ngược lại, ĐTC nói, nếu chúng ta lắng nghe mặc khải và quan sát thực tại từ một viễn ảnh siêu nhiên, lúc ấy chúng ta sẽ thấy sự hiện diện của ma quỷ được Kinh thánh chứng thực ngay từ những trang đầu tiên, nhưng kết thúc với sự chiến thắng của Thiên Chúa. Mặt khác, ngay lời kinh mà Chúa Giêsu dạy chúng ta – Kinh Lạy Cha – đã kết thúc với câu kết : « Xin giải thoát chúng con khỏi Ác thần ». Như vậy, ma quỷ là một nhân vật đang quấy rối chúng ta, và Chúa Giêsu dạy ta phải cầu xin cho được giải thoát khỏi nó.

Như vậy ĐTC có thể viết rằng : « Đừng nghĩ rằng ma quỷ là một huyền thoại, một biểu tượng, một ý tưởng. Sự lường gạt này đưa chúng ta đến sự lơ là, không chịu canh phòng, và lơ đãng. Ma quỷ không cần chiếm hữu ta đâu. Nó đầu độc ta bằng sự căm thù, buồn phiền, ghen tương, những tật xấu. Và như thế, khi chúng ta không biết đề phòng, ma quỷ lợi dụng để hủy hoại đời ta, các gia đình và cộng đoàn của chúng ta » (GE 161).

Thật thú vị khi ĐTC trưng dẫn một tư tưởng của Đức Phaolô VI ở chú thích số 121 : « Một trong nhiều điều cần thiết nhất là đề phòng khỏi sự dữ mà ta gọi là Ma quỷ […]. Sự dữ không chỉ là một sự khiếm khuyết nhưng là một sự hữu hiệu, một hữu thể sống động, thiêng liêng, đã bị hư hỏng và làm người khác hư hỏng. Một thực tại khủng khiếp, huyền bí và đáng sợ. Sẽ là đi ra ngoài lời dạy của Kinh thánh và Giáo hội, những ai không muốn nhìn nhận sự hiện hữu của nó ; hoặc coi nó như một nguyên ủy tự lập chứ không phải là thụ tạo bắt nguồn từ Thiên Chúa ; hoặc ai giải thích rằng nó là thực tại ảo, một thứ nhân cách hóa các lực lượng của các tai ương của ta »[26].

Dĩ nhiên, vạch mặt các kẻ thù mà chúng ta phải chiến đấu thì chưa đủ ; cần phải chỉ ra những công cụ mà Giáo hội cung cấp cho cuộc chiến đấu này. Để giao tranh, các dụng cụ tự nhiên tựa như sự quyết tâm, kiên trì thì chưa đủ. Có một câu Thánh vịnh nói rất chính xác rằng : « Trong cuộc chiến đấu của con, xin Chúa hãy đích thân chiến đấu » (x. Tv 43,1 ; 119,154) ; điều này muốn nói rằng cuộc chiến chống lại thế gian và lực lượng ác thần chỉ có thể thực hiện nhờ các vũ khí siêu nhiên. ĐTC viết : « Trong cuộc chiến này, chúng ta có những vũ khí mạnh mẽ mà Chúa đã ban : đức tin được diễn ra qua việc cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, cử hành Thánh lễ, thờ lạy Thánh Thể, các việc bác ái, đời sống cộng đoàn, dấn thân truyền giáo » (GE 162).

Kết luận

Trên đây là tóm lược con đường thiêng liêng mà Đức Phanxicô đề ra cho Giáo hội trong kế hoạch cải tổ, cũng như cho mỗi người tín hữu chúng ta trong việc đạt đến hạnh phúc. Có lẽ câu châm ngôn của Dòng Tên được trích dẫn ở số 160 có khả năng thu gọn quy tắc nền tảng để nên thánh : « Non coerceri a maximo, contineri tamen a minimo, divinum est » và được chính ĐTC giải thích như sau : « đừng đặt giới hạn cho điều cao cả, tốt nhất, đẹp nhất, nhưng đồng thời, hãy tập trung vào điều bé nhỏ, vào bổn phận đang làm hôm nay »[27]. Bí quyết nên thánh nằm ở sự căng thẳng giữa niềm khát vọng vô biên và thực tế phũ phàng ở lúc này.

———

Phụ lục : Những vị thánh được trưng dẫn trong tông huấn Gaudete et Exsultate

Lặp lại giáo huấn của công đồng Vaticano II về lời mời gọi tất cả mọi người nên thánh, Tông huấn sử dụng những thuật ngữ như là « sự thánh thiện của ông hàng xóm », « sự thánh thiện của giới trung lưu » để nhấn mạnh rằng sự thánh thiện không phải là một lý tưởng cao vời, dành riêng cho một ít người ưu tuyển. Không phải thế, tất cả mọi người đều có thể nên thánh. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là sự thánh thiện mang tính đồng bộ. Ngược lại, sự thánh thiện trong Giáo hội thật là đa sắc, bởi vì Chúa có một chương trình riêng cho từng người. Và ra như để chứng tỏ điều này, tông huấn đã trưng dẫn 40 khuôn mặt thánh thiện khác nhau, không phải trong một danh sách tổng hợp, nhưng được phân phối rải rác từ đầu đến cuối. Chúng ta hãy rảo qua một vòng[28].

Tông huấn mở đầu ở số 3 với « Đám mây các nhân chứng » (x. Hr 12,1), khởi đi từ vài nhân vật của Cựu ước (Abraham, Sara, Môsê, Gideon, v.v…) rồi các vị của Tân ước tựa như bà ngoại của Timotê, tượng trưng cho những tấm gương thánh thiện trong gia đình.

Qua số 5, khi nói đến những người thực hiện các nhân đức anh hùng, tông huấn đan cử thí dụ của chân phước Maria Gabriella Segheddu, nữ tu Trappe, dâng hiến đời mình để cầu nguyện cho sự hợp nhất của Giáo hội (+1939). Ở số 8, thánh nữ Têrêsa Bênêđicta Thánh giá (Edith Stein), một nữ tu dòng Cát Minh, được trích dẫn qua một đoạn văn nói đến chứng tá của bao vị thánh âm thầm.

Khuôn mặt của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II được nhắc đến ở số 9 (và sẽ còn được lặp lại ở các số 45, 91, 96). Một vị thánh cũng nhắc đến nhiều lần là Gioan Thánh giá (số 11, 117, 148) ; ngài đã gặp nhiều khó khăn khi cổ động việc cải tổ dòng Cát Minh.

Số 12 được dành cho “thiên tài nữ giới”, những phụ nữ đã góp phần vào việc xây dựng Giáo hội kể cả bằng học thuyết đạo lý : các thánh Hildegard Bingen, Birgitta, Catarina Siena, Têrêsa Avila (còn được nhắc đến ở số 149), Thérèse Lisieux (còn được nhắc đến ở số 54 và 72, vị chi tất cả là 3 lần).

Khi bàn đến việc sống cho giây phút hiện tại, tông huấn số 17 trích dẫn linh đạo của Đấng đáng kính Nguyễn Văn Thuận.

Mặc dù tư tưởng của thánh Inhaxiô Loyola đã phảng phất đây đó trong suốt cả tông huấn, nhưng tên của vị tổ phụ được nhắc đến lần đầu tiên ở số 20, và sẽ còn được lặp lại ở các số 69 và 153.

Ở số 32, khi nói đến giá trị của sự thánh thiện đối với việc thăng tiến con người, tông huấn trích dẫn gương của nữ tu Giuseppina Bakhita (+1947) một phụ nữ da đen bị bán làm nô lệ nhưng đã khám phá ra phẩm giá cao quý của mình.

Trong bối cảnh của chương II, bàn về hai kẻ thù tinh vi của sự thánh thiện : một là thuyết ngộ giáo, hai là thuyết Pelagiô, ta thấy xuất hiện ba vị thánh dòng Hèn mọn, đó là thánh Phanxicô Assisi, thánh Antôn Padova và thánh Bonaventura (số 46). Thánh Phanxicô còn xuất hiện một lần nữa ở số 100, và thánh Bonaventura ở số 174. Liên quan đến nhóm Pêlagiô, đương nhiên phải nhắc đến thánh Augustinô (số 49 và 52). Sự cần thiết của ân sủng cũng là đạo lý của các giáo phụ Gioan Kim Khẩu, Basilio (số 52), cũng như thánh Tôma Aquinô (số 59 và 106).

Tuy các thư thánh Phaolô được trích dẫn nhiều lần, nhưng tên của ngài xuất hiện minh thị kể từ số 60 rồi các số 73, 76, 86, 113, 122 và 127. Các tác giả khác của Tân ước được tông huấn nhắc đến là Luca (số 70 và 81), Mátthêu (số 96).

Trong khung cảnh của Chương Ba bàn về Bát phúc, chúng ta gặp thấy nhiều vị chứng nhân : thánh Vinh-sơn Phaolô (số 100 và 126), thánh Têrêsa Calcutta (số 100 và 107), thánh Bênêđictô (số 100 và 107).

Chương Bốn đề cập đến vài đặc điểm của sự thánh thiện vào thời này, một lần nữa ta lại gặp thánh Gioan Thánh giá nhắc nhở đức khiêm nhường (số 117), rồi thánh nữ Faustina Kowalska về sự tín thác (số 121). Làm thánh thì phải vui chứ : đó là sứ điệp của các thánh Thomas More, Vinh-sơn Phaolô, Philipphê Neri (số 126).

Một đặc trưng nữa của sự thánh thiện là cộng đồng. Đây là cơ hội để giới thiệu các cộng đồng thánh nhân ở số 141, chẳng hạn như bảy thánh sáng lập Dòng Tôi tớ Đức Mẹ hoặc bảy chân phúc nữ tu dòng Thăm viếng Madrid, và đặc biệt là các thánh tử đạo cùng với đồng bạn ở Nhật Bản (Phaolô Miki), Triều Tiên (Anrê Taigon), Brasil (Roque Gonzalez), Algérie (dòng Trappisté ở Tibhirine). Tư tưởng được tiếp nối với các cộng đồng tu trì, chẳng hạn như Bênêđictô và Scholastica, và thậm chí hai mẹ con Mônica và Augustinô (số 142). Thánh gia Nazareth cũng có thể xếp vào đặc điểm này (số 143).

Khi nói đến việc kiên trì cầu nguyện, thánh Gioan Thánh giá và Têresa Avila lại được trưng dẫn ở các số 148-149. Còn nơi chân phúc Charles de Foucauld chúng ta học cách cầu nguyện thờ lạy và chúc tụng (số 155).

Trong chương V nói về sự chiến đấu và tỉnh thức, tông thư giới thiệu thánh José Gabriel del Rosario Brochero một cha xứ Argentina (+1914) như tấm gương hăng say với công tác mục vụ của linh mục.

Tông thư kết thúc với tấm gương Đức Trinh nữ Maria, người đã sống tình thần Bát phúc, người đã sống trước sự hiện diện của Thiên Chúa, người đã cẩn thủ mọi điều trong trái tim, người đã để cho trái tim mình bị lưỡi gươm đâm thâu (số 176).

Tóm lại, trong bản danh sách này, chúng ta có thể đếm được 35 cá nhân và 5 nhóm. Phía nam giới có 22 cá nhân và 4 nhóm ; phía nữ giới có 13 cá nhân và 1 nhóm. Các thánh tử đạo Triều Tiên họp thành một nhóm gồm cả nam và nữ.

——————-

[21] X. THOMAS AQ., Summa Theologiae, I-II, q. 70, a. 3.

[22] Xem thêm Tông huấn Evangelii nuntiandi của ĐTC Phaolo VI (1975), số 80.

[23] X. E. BIANCHI, Custodisci il tuo cuore La lotta contro le tentazioni, Cinisello Balsamo 2012.

[24] ORIGÈNE, Omelie su Giosuè, 5,2 (trích dẫn trong E. BIANCHI, Custodisci il tuo cuore, 11).

[25] Thư gửi ông Đio-nhê-tô, trong Phụng vụ Giờ kinh, Kinh Sách ngày thứ Tư tuần V mùa Phục sinh.

[26] ĐGH PHAOLÔ VI, Huấn giáo buổi tiếp kiến chung ngày 15-11-1972, in Insegnamenti, X (1972), 1168­-1170.

[27] GE 169. Chú thích của người dịch. Nếu muốn dịch sát nghĩa câu châm ngôn thì phải nói : « Đừng chịu giới hạn bởi bất cứ điều gì to tác, tuy vậy hãy dừng lại trong điều gì nhỏ nhất : đó là thần thánh vậy ». Nhân tiện, nên biết là tư tưởng thánh Inhaxiô được tông huấn trích dẫn nhiều lần : số 20 (suy gẫm các mầu nhiệm Chúa Kitô) ; chú thích số 18 (Sách Linh thao 102-104) ; số 69 (santa indifferenza) ; chú thích số 68 ; số 153 về việc nhớ lại ơn Chúa cùng với chú thích số 116. Sau cùng, tông huấn đã dành khá nhiều đoạn (số 166-175) để bàn về sự phân định (discernimento), một đề tài rất là Ý-nhã.

[28] Emilia Flocchini, Chi sono i santi della lettera sulla santità di Papa Francesco? www.lacrocequotidiano.it/articolo/2018/04/10/