Sunday, June 16, 20247:56 PM(View: 13)
Là con gái của cha mẹ phật tử người Trung hoa di cư qua Thái Lan, cô Orawan Larpppipitmongkol bây giờ là nữ tu Anastasia và sống ở tu viện đa sắc tộc của các sơ Dòng Kín Capuxinô Clara khó nghèo Garbatella ở Rôma.
Sunday, June 16, 20247:53 PM(View: 10)
Những người quen thân tôi đều biết rằng tôi là người mới làm lễ quy y theo Đạo Phật cách đây khoảng hơn 2 năm.
Sunday, June 16, 20247:29 PM(View: 8)
Nguồn: https://catholicexchange.com/a-fathers-day-tale/ Cha Al là vị linh mục đã chiến đấu với du đãng để bảo vệ đàn chiên. Cha Al đến phục vụ ở vùng Busan, Đại Hàn vào năm 1957. Cha Al luôn chăm sóc tốt cho đàn chiên. Cha đã từng chạm trán với những thầy giáo có tinh thần du đãng...
Sunday, June 16, 202411:15 AM(View: 15)
Nguồn: https://catholicexchange.com/a-fathers-day-tale/ Vị linh mục đã chiến đấu với du đãng để bảo vệ đàn chiên. Năm 1955, một tu sinh người Mỹ đã theo học ở vùng Louvain, nước Bỉ. Ngài đã đọc được một bài thơ mà làm cho cuộc đời ngài thay đổi từ đấy.
Saturday, June 15, 20245:09 PM(View: 18)
Nguồn: Opus Sanctorum Angelorum Một nữ tu tên Maria Gemma kể cảm nghiệm:
Saturday, June 15, 20244:59 PM(View: 17)
Nguồn: Opus Sanctorum Angelorum Một người đàn bà kể cảm nghiệm: Tôi đi hành hương tại làng Medjugorje. Khi tôi từ núi Krizevac đi xuống. Tôi nghe người ta cảnh cáo rằng khi xuống núi thì nguy hiểm hơn là khi trèo lên núi.
Saturday, June 15, 20244:23 PM(View: 20)
Nguồn: Opus Sanctorum Angelorum Một người đàn ông kể cảm nghiệm: Một ngày kia, vợ tôi và tôi quyết định thánh hiến bản thân cho vị Thiên Thần Bản Mệnh của mình. Chúng tôi sẽ được thánh hiến trong Thánh Lễ mà Cha Wolfgang làm chủ tế. Tôi phải đi mua hai...
Saturday, June 15, 20243:53 PM(View: 17)
Nguồn: Internet 1. Vào ngày 25/5/ 2024, thị nhân của Medjugorje là cô Marija, nhận được thông điệp hàng tháng từ Đức Mẹ Maria:
Friday, June 14, 20248:50 PM(View: 25)
Nguồn: Spiritdaily.com Ông André Levet kể tiếp về cảm nghiệm của mình: Rồi một ngày kia, vị linh mục gửi cho tôi một cuốn sách lớn và nói:
Friday, June 14, 20248:18 PM(View: 28)
Nguồn: Spiritdaily.com Ông André Levet kể cảm nghiệm của mình: Tôi tên là André Levet, người Pháp. Tôi sinh vào năm 1932 trong một gia đình vô thần. Tôi chưa bao giờ được nghe đến Chúa.

LỮ KHÁCH BÌNH AN

Sunday, April 24, 20226:37 PM(View: 534)

17-4dLỮ KHÁCH BÌNH AN

Bình an là một ân huệ cao quý mà Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Vì, bình an vừa là trạng thái hạnh phúc sống động lại vừa mang dấu ấn của Chúa Thánh Linh. Thật vậy, khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài chỉ ban cho các tông đồ một “món quà” duy nhất là “Bình an cho anh em”. (Ga 20,19.20.26)

Như thế, bình an là cái mà nhân loại luôn luôn khao khát và mong ước đạt đến, thế nhưng nhân loại sẽ không bao giờ đạt được nếu không có Đấng Phục sinh ban bình an. Thánh Luca đã thuật lại : khi Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau với dáng vẻ một lữ khách, nhưng rất bình an, bình an đến độ bình thường nên hai môn đệ không nhận ra Ngài. Khi Chúa lên tiếng hỏi họ : « Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? » (Lc 24,17). Chưa được câu trả lời thì Chúa đã bị trách là người đứng ngoài cuộc : « Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay » (Lc24,18). Vì là khách nên bàng quang, nên không hay biết chuyện gì, chuyện cả thế gian đều biết riêng chỉ có mình ông là không biết… và vì là khách nên hai môn đệ mới mời Đức Giêsu ở lại: « Mời ông ở lại…» (Lc24, 28)

Cũng vậy, Thánh Gioan tường thuật, khi bà Maria Macdala đến mồ Chúa, không thấy Chúa, bà khóc lóc; nhưng khi Chúa đứng trước mặt thì bà lại tưởng là người làm vườn (Ga 20,15). Với Maria, Đức Giêsu chẳng những bình thường mà còn rất tầm thường nữa, bình thường như một người làm vườn và tầm thường như một người lấy cắp xác người chết : « Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về. » (Ga20, 15).

Đức Giêsu, không vì là Đấng ban bình an nên Ngài phải bình an. Nhưng vì Ngài đã yêu đến cùng, yêu đến không còn giữ lại cho riêng mình một khoảng cách, một sự khác biệt nào đó để người khác có thể nhận diện. Ngài trở nên bình thường như một lữ khách, như người làm vườn và tầm thường như một người lấy cắp xác. Tuy nhiên, dung mạo của Đức Giêsu dù là bình thường đến tầm thường đi nữa, nhưng chỉ những ai nhìn ở góc độ tình yêu thì mới có thể nhận ra Ngài. Thật thế, hai môn đệ trên đường Emmau không nhận ra Chúa qua giọng nói, hình dáng, quần áo… mà nhận ra Chúa cầm bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ (Lc24, 30-31). Còn Maria chỉ nghe Chúa gọi “Maria” là đã nhận ra Thầy. Trong tình yêu có những bí mật thật dễ thương là thế.

Nếu Đức Giêsu được xem là một lữ khách bình an, thì hai môn đệ của Ngài là những lữ khách không bình an. Hai môn đệ trên đường trở về quê hương với sự thất vọng đến chán chường, thất vọng vì cho rằng những quyết định của mình là sai lầm, có lẽ các ông tiếc nuối vì đã bỏ công lao, sức khỏe, thời gian đã qua để đi theo một con người và hy vọng người ấy sẽ khôi phục Israel, hy vọng mình sẽ có một chỗ đứng trong vương quốc ấy. Maria cũng thế, chắc hẳn tuyệt vọng lắm, vì chỉ còn cái xác của Thầy thôi mà cũng bị lấy cắp. So với các tông đồ; Maria đơn giản hơn nhiều, bà không hy vọng Thầy khôi phục Israel hay trông đợi Thầy làm việc gì lớn lao vĩ đại, bà cũng không tranh giành chỗ ngồi bên hữu và bên tả Thầy như hai anh em con ông Giêbêđê. Đối với Maria; đơn giản chỉ là tình yêu.

Tuy nhiên với bà, tình yêu đối với Chúa Giêsu có phần trở nên ích kỷ, có phần như sở hữu Chúa cho riêng mình, đành rằng bà rất yêu Chúa. Vì thế, Chúa trong tâm trí bà là do bà vẽ nên - một hình ảnh có phần chủ quan mà bà đã yêu thương. Hơn thế, bà muốn giữ mãi tình yêu đó, muốn Chúa ở mãi trong cuộc đời bà theo cách thức của bà, theo một khuôn mẫu bà vạch sẵn… Nhưng Chúa Giêsu là con người cho mọi người và tình yêu của Ngài được dành cho tất cả nhân loại chứ không của riêng ai. Vì Chúa Giêsu không như bà nghĩ, cho nên, dung mạo Chúa Phục sinh đứng trước bà vừa thân thương nhưng lại vừa xa lạ là thế.

Thế thì, các tông đồ, mỗi người suy nghĩ và muốn Chúa thực hiện chương trình cứu độ của Cha theo cách riêng của mình, nên khi không được như ý thì các ông lại không bình an.

Người lữ khách trong bài hát “LỮ KHÁCH BÌNH AN” của tôi là một lữ khách mang dấu ấn của người con được Thiên Chúa yêu thương. Người lữ khách này không đi trên đường về Emmau như hai môn đệ, cũng không trên đường ra mộ Chúa như Maria… mà đang lữ hành trong thân phận làm người, làm con Thiên Chúa của mình, người lữ khách ấy đang lữ hành trên con đường trần gian và đang tiến về miền đất yêu thương vĩnh cửu.

Khi viết bài hát này, hơn bao giờ hết tôi đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa và cảm nghiệm rất sâu sắc thân phận làm người của mình, một người con đã ngụp lặn trong thân phận bất toàn và đã cảm nghiệm hơn bao giờ hết nỗi bất lực ấy. Với những ước muốn rất là con người, rất ư tầm thường mà tôi đã viết lên ca khúc; không chỉ cho chính mình, mà cho cả anh chị em đang sống xung quanh, những người cùng đang chia sẻ thân phận làm người và làm con Thiên Chúa với mình và khao khát “BÌNH AN”.

Cũng như hai môn đệ, Maria và các tông đồ… Người lữ khách ấy là tôi, là anh, là nhân loại đang khắc khoải trong cảm giác không bình an của mình. Không bình an vì nhiều nguyên do; với hai môn đệ và các tông đồ, rào cản cho sự bình an là nỗi thất vọng cho một dự tính nhằm vào vương quốc Israel, nhắm vào quyền hành, vào vị thế… rào cản của Maria là một tình yêu không ban phát. Còn tôi, anh và nhân loại… chắc hẳn mỗi người có một vị thế khác nhau trong xã hội, trong Giáo hội nên chắc chắn mỗi người có những rào cản khác nhau khiến chúng ta không bình an.

Ca khúc thể hiện những cụm từ : tiền tài, danh vọng, kiêu căng, ganh tị và đau khổ… xem ra rất quen thuộc và rất tầm thường ấy nhưng lại là rào cản khó vượt cho những ai khao khát sống bình an. Đặt tâm trạng vào bài hát, sẽ cảm nghiệm những tranh giành ảnh hưởng lên nhau đều bắt nguồn từ mưu lợi; là sức mạnh, là tiếng nói có thế giá của con người, của chế độ. Nó có sức chi phối, thậm chí đè bẹp lên vị thế và nhân phẩm của người khác, khiến Thiên Chúa không còn là nguồn bình an, mà trớ trêu thay, trở thành rào cản cho những toan tính của chúng ta.

Những toan tính ấy chắc chắn sẽ chi phối, sẽ biến thái tình cảm : “ganh ghét, giận hờn, so đo…”, là những ngôn từ thể hiện bản chất rất là con người của lữ khách. Nhưng lữ khách của tôi ý thức được những điều ấy không đẹp lòng Chúa, cũng chẳng hợp lòng nhau. Có thể thành công của người này lại là thất bại của người khác, hạnh phúc của mình có khi là đau khổ của những anh chị em khác. Vì thế, lữ khách của tôi tìm về nguồn xuất phát của sự bình an là Thiên Chúa. Phó thác như Chúa Giêsu đã phó thác vào tay Cha, yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương, và tha thứ như Chúa Giêsu đã tha thứ… tôi nhận thức rằng, tự bản chất “BÌNH AN” của Thiên Chúa và toan tính của thế nhân sẽ loại trừ nhau. “Bình an” phủ định danh vọng, tiền tài, ganh ghét, giận hờn, kiêu căng hay đau khổ; chúng sẽ không tồn tại bên nhau. Tuy nhiên, vì là con người nên “cỏ lùng và lúa” vẫn phải sống chung trong một ruộng của chủ cho đến ngày tận thế.

Còn tôi, là một dân đen, tôi không có tham vọng khôi phục “vương quốc” hay đạt được một vị trí nào đó trong xã hội hay trong Giáo hội… Vì thế, rào cản làm cho tôi không bình an chắc hẳn không phải là tiền tài, vì tôi không có nhiều tiền đến nỗi phải chi phối cuộc sống của người khác, cũng không phải là danh vọng, thế giá, vì tôi có “danh” đâu mà “vọng”, cũng chẳng có vị thế để đứng trên “giá”. Có thể, với tôi là một kiến thức giới hạn, vì có kiến thức là có suy tính, đúng sai, khoa học… và rồi trong tình yêu...

ST