CHUYỂN TRAO ĐỨC TIN CHO CÁC THẾ HỆ MỚI:
10 THÁCH ĐỐ TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
(Tiếp theo tuần trước)
6. Trở nên một thân thể với tha nhân, gắn kết
Đại dịch đã buộc thân xác phải rút lui. Thân xác bị cô lập và, theo một nghĩa nào đó, bị ẩn đi. Khi nói đến “thân xác”, ta muốn nói đến sự hiện diện của con người. Chính nhờ thân xác và những biểu hiện của nó mà chúng ta thiết lập mối tương quan với thế giới và với tha nhân.
Trải nghiệm bị giam mình trong thời gian đại dịch đã tạo ra một hình thức hiện diện mới, một hình thức có thể hiện diện mà không cần đến thân xác. Các nền tảng truyền thông kỹ thuật số giúp chúng ta hiện diện với nhau, tốt nhất là trên bình diện chủ ý, nhưng dạng hiện diện ấy không thể kéo dài lâu. Trong thời gian chờ cho tới khi chúng ta có thể gặp lại nhau, thì chúng ta chỉ có thể hiện diện qua kỹ thuật số với những người mà chúng ta mong được hiện diện thật sự trong hiện thực. Tuy nhiên, đối với trẻ em và thanh thiếu niên, sự hiện diện qua màn hình không được cảm nhận như một “sự mở rộng” của sự hiện diện thể lý của chúng trong không gian kỹ thuật số bởi những phương tiện được sử dụng theo sự chủ ý.
Theo thời gian, chúng ta đã dần trở nên “hiện diện” nhiều hơn và trở lại với một hình thức bình thường mới; tuy nhiên, sự dè dặt, e ngại khi hiện diện trước người khác, sự khó khăn trong việc chịu trách nhiệm cho lời mình nói vì không đối diện trực tiếp với tha nhân, cũng như khuynh hướng hiểu người khác như một “liên hệ” hay một “hồ sơ kỹ thuật số” hơn là một nhân vị thật sự, tất cả những điều ấy đã khiến nhiều người đánh mất khả năng bước vào trong các mối tương quan đích thực.
Chúng ta vẫn chưa xây dựng được những phương pháp sư phạm cần thiết để củng cố mối dây liên kết lành mạnh với những người không phải là “chúng ta”, nhưng lại góp phần hình thành nên chính con người chúng ta, bởi lẽ họ phản chiếu chính chúng ta. Sự phản chiếu này, vốn là điều mà mọi chủ thể đều cần đến chỉ có thể xảy ra khi có sự hiện diện thể lý của tha nhân.
Đối với đức tin, thân thể là chính Đức Kitô, thân thể ấy được tìm thấy nơi anh chị em đồng loại của chúng ta. Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu đức tin chỉ mang tính thiêng liêng thuần túy? Khi ấy, nó chẳng là gì khác ngoài việc tìm kiếm sự thoải mái nội tâm như một món hàng tiêu dùng có thể có được qua một trải nghiệm đặc biệt nào đó. Nhưng Kitô giáo tìm thấy ơn cứu độ cá nhân nơi tha nhân. Thiên Chúa ưa thích dùng những trung gian, Ngài nhập thể để có thể chạm đến tâm hồn con người cách cụ thể. Thân thể của Đức Kitô chính là cộng đoàn, là mối dây liên kết, là sự hiệp thông và hòa điệu trong tình yêu, điều chỉ có thể được thực hiện qua kinh nghiệm hiện diện và sống cùng nhau. Việc Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Giêsu được nên trọn nơi cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Người, và nhờ đó ‘Kitô hóa’ mọi thực tại.
7. Kể chuyện – Học cách thừa hưởng một truyền thống
Kitô giáo là một câu chuyện sống động được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua việc thuật lại những gì Thiên Chúa đang thực hiện nơi chúng ta qua Thánh Thần của Ngài. Chúng ta cần giúp trẻ em và người trẻ biết kể lại câu chuyện đời mình, biết liên kết các biến cố trong cuộc sống, biết tìm ra những ẩn dụ và hình ảnh thích hợp để kể câu chuyện cuộc đời của họ, bởi chính nhờ đó họ sẽ ngày càng phát triển khả năng giải nghĩa cuộc sống.
Lối truyền đạt tối giản dưới dạng các thông điệp đóng gói sẵn được chuyển thành biểu tượng, hình dán (sticker) và biểu cảm (emoticon) cùng với khả năng tua nhanh tin nhắn thoại trên WhatsApp hoặc xóa đi điều đã nói, tạo ra sự bất ổn trong giao tiếp. Những hình thức này không bảo đảm người nhận sẽ hiểu đúng điều được truyền đạt. Trái lại, chúng đặt nội dung vào sự lệ thuộc của một tông giọng giả định nào đó, vào sự phi đồng bộ trong thời gian, và vào việc vắng mặt của thân xác người tiếp nhận, chính thân xác ấy, qua cử chỉ và cảm xúc, mới hoàn tất trọn vẹn quá trình truyền thông.
Nghịch lý thay, việc thu nhỏ nội dung thông điệp lại va chạm với sự gia tăng số lượng của việc nhắn tin. Từ hầu hết mọi nền tảng, người ta có thể gửi tin nhắn trực tiếp. Chúng ta có thể nhân lên vô số cuộc trò chuyện theo ý muốn. Điều này khiến ta tưởng rằng mình đang giao tiếp rất nhiều, nhưng trên thực tế, có lẽ ta chỉ đang xử lý thư từ một cách máy móc.
Truyền thống Kitô giáo là một di sản sống động, và sẽ luôn sống động nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, sứ mạng tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự và nhận ra Ngài trong mọi sự lại diễn ra trong khuôn khổ của một lịch sử cứu độ được Thiên Chúa hướng dẫn. Nếu chúng ta không giúp trẻ em và người trẻ phát triển những chiến lược truyền thông phù hợp để trở thành những người tiếp nhận thông điệp cách chủ động, thì cuối cùng chúng ta sẽ chỉ nói chuyện với chính mình mà thôi.
8. Đặt “cái tôi” trong một “chúng ta” – tính thuộc về
Nhu cầu khôi phục chiều kích tương quan và trả lại cho chúng chiều sâu vốn có phát xuất từ xác tín rằng không hề có một “cái tôi” thuần túy ngay từ bản chất, rồi sau đó mới bước vào mối tương quan với người khác. Căn tính chủ thể của chúng ta được hình thành nhờ tương quan.
Việc tôn vinh cái tôi, một cám dỗ không ngừng đeo bám chúng ta, hủy hoại “chúng ta” và làm đứt gãy những mối dây xã hội, đến mức giam giữ mỗi người trong thế giới riêng của mình, nơi chỉ có những quy luật chủ quan ngự trị. Chỉ có một “chúng ta” mới có thể cứu chúng ta khỏi bi kịch của một cái tôi phóng đại quá mức.
Vì thế, chúng ta phải nuôi dưỡng những gì có thể kiến tạo cộng đoàn: những mối dây liên kết, những cuộc gặp gỡ, và những câu chuyện chung. Đức tin Kitô giáo là một đức tin mang chiều kích cộng đoàn, chứ không đơn độc. Người ta lãnh nhận đức tin từ cộng đoàn, và được biến đổi nhờ chính hành động định hình mà cộng đoàn ghi khắc nơi mỗi người, giúp họ mở lòng và mời gọi họ dấn thân vào việc trao ban chính mình.
Chúng ta phải thi hành sứ mạng giải trừ quyền lực của cái tôi, để nó có thể khám phá các mối tương quan với tha nhân. Chỉ bằng cách ấy, Chúa Kitô mới có thể chiếm giữ vị trí trung tâm sống động trong những chọn lựa cá vị của chúng ta, những chọn lựa vốn không bao giờ mang tính cá nhân đơn lẻ, nhưng luôn được thực hiện trong cộng đoàn, cộng đoàn đó nâng đỡ từng người trong sự độc đáo và duy nhất của họ.
9. Đừng cố biết hết mọi sự, hãy dành chỗ cho mầu nhiệm
Chủ nghĩa bách khoa toàn thư vẫn còn tồn tại trong khát vọng kiểm soát thực tại thông qua tri thức, đã gây tác hại không nhỏ đối với việc truyền đạt đức tin, đặc biệt trong xã hội hiện đại. Một đặc điểm riêng biệt của thời đại này là người ta không chỉ muốn biết, hay hiểu sâu một vài thực tại nào đó, mà còn muốn biết mọi thứ. Những sự nhạy cảm đương thời không chấp nhận giới hạn, ranh giới, sự hữu hạn. Thế giới kỹ thuật số, vốn vượt qua giới hạn của thời gian và không gian vật lý, dường như mở ra hình thức mới của ranh giới kỹ thuật số linh hoạt hơn và khó nắm bắt hơn. Điều này tạo nên cảm giác rằng một không gian gần như vô hạn của vạn vật đang mở ra cho khát vọng của con người.
Khả năng nhận biết chính mình là hữu hạn cho thấy vị trí thích đáng để chúng ta tương quan với mầu nhiệm của Thiên Chúa. Nếu đánh mất việc đặt mình trong sự nhỏ bé của thân phận làm người, thì sự kinh ngạc trước sự bao la vô biên của Thiên Chúa cũng dần phai nhạt.
Nền sư phạm của sự kinh ngạc nhắm đến việc giúp cho sự giới hạn của chúng ta không trở thành một chướng ngại gây thất vọng, nhưng đúng hơn, trở thành một bàn đạp để hướng tới Đấng khôn tả, Đấng huyền nhiệm, Đấng vô hình nhưng nâng đỡ và duy trì sự hiện hữu của chúng ta.
10. Cắt đứt, khép lại, kết thúc
Yếu tố sau cùng này mời gọi chúng ta học cách nói lời chia tay, bắt đầu một trang mới, biết tôn trọng những chu kỳ của cuộc sống – điều mà con người thời nay đã quen thay đổi và can thiệp, chẳng hạn như từ khi điện năng bước vào đời sống hiện đại. Ở đây, không phải là để khinh chê những tiến bộ của khoa học, nhưng là để cân nhắc xem mỗi tiến bộ ấy thực sự giúp chúng ta sống tốt hơn đến mức nào.
Trẻ em và người trẻ cần được giúp đỡ để trải nghiệm tính mong manh của từng giai đoạn sống, để biết vui mừng về những biến cố quan trọng của cuộc đời bằng việc học cách nhận ra khi nào một điều gì đó đã kết thúc, biết nói lời tạm biệt với người đã qua đời, và buông bỏ một cách lành mạnh những gì không còn thuộc về hiện tại.
Nếu không, những tàn dư, những điều còn dang dở sẽ tồn đọng lại như một nghiệp chưa dứt, đòi hỏi chỗ đứng trong những lúc yếu đuối hay không chắc chắn, rồi quay lại chất vấn tất cả mọi thứ.
Và vì tính lỏng lẻo là khuynh hướng đặc trưng của các thế hệ mới, nên thứ tính toàn năng trẻ con trong họ dễ bị thách thức và không sẵn lòng buông bỏ bất cứ điều gì, để rồi nghịch lý thay, họ lại không giữ được điều gì cả: sự trống rỗng của một đời sống không có quyết định.
Đức tin cần được phát triển, và điều đó chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta bước qua một giai đoạn, kết thúc nó, buông bỏ nó, và không kỳ vọng, khi ngoảnh lại, những gì đã qua sẽ có thể quay lại, hay nó có thể được cố định một cách kỳ diệu tại một điểm chết, không còn sự sống. Cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải chọn lựa, chọn điều mà chúng ta cảm nhận là của riêng mình, là điều Thiên Chúa mời gọi ta sống. Nhưng chúng ta không thể đưa ra một chọn lựa tích cực nếu không có sự cắt đứt và từ bỏ. Sau cùng, nếu không có sự chết, thì cũng sẽ không có sự phục sinh.
Emmanuel Sicre
Chuyển dịch: Hoài Ân - Từ nguồn: La Civiltà Cattolica.








