28 Tháng Hai 20193:48 CH(Xem: 77)
Bài của Deacon Guadalupe Rodriguez: Vị nữ tu Mary Ephrem, thị nhân được thị kiến các cuộc hiện ra của Đức Bà Mỹ Quốc, Chúa Giêsu, Thánh Giuse, Thánh Micae (Michael) và các Thánh tại Hoa Kỳ kể từ thập niên 1950 đến khi bà qua đời năm 2000.
28 Tháng Hai 20191:44 CH(Xem: 42)
Bài của Deacon Guadalupe Rodriguez: Vào mùa Thu năm 1954, một Thiên Thần Hoà Bình hiện đến để chuẩn bị cho Nữ Tu Mary Ephrem (1916-2000) thuộc Dòng Chị Em của Máu Thánh Cực Châu Báu Chúa Giêsu (the Sisters of the Precious Blood of Jesus) nhận được sự hiện ra của Đức Mẹ Mỹ Quốc.
24 Tháng Hai 20198:02 CH(Xem: 96)
Cách đây vài hôm có một thính giả của Radio Giờ Của Mẹ từ tiểu bang Georgia qua Cali thăm một người bạn đang bịnh nặng. Nhân dịp này, chị Mary ấy gọi điện thoại đến thăm tôi. Chị ấy kể về sự chữa lành mà chị nhận được sau khi chị được đọc hai cuốn sách: "Hãy Cứu Các Linh Hồn" và cuốn thứ 9 trong bộ sách 10 cuốn của tác phẩm "Tin Mừng Như Đã Được Vén Mở Cho Tôi."
24 Tháng Hai 20192:26 CH(Xem: 95)
ĐGH Phanxico khi sang thăm Hoa Kỳ đã có nhắc tên vị Đan Sĩ Thomas Merton này. Ông còn là một nhà thơ, nhà văn và là một triết gia. Ông bị điện giựt chết tại phòng tắm, sau khi phát biểu ở một đại hội tại Thái Lan, Châu Á. Sau đây là một vài lời của ông và về ông: 1. "Hãy sống tốt, giữ đôi chân khô ráo, đôi mắt mở to, trái tim bình an và linh hồn trong niềm vui của Chúa Kito." (Thomas Merton)
23 Tháng Hai 201911:51 SA(Xem: 122)
Nguồn: Aleteia Sau đây là lời cầu nguyện của một tác giả khuyết danh, chúng ta đặt mọi sự trước Thiên Chúa, xin Ngài giúp chúng ta đối diện với những khó khăn hàng ngày và xin Chúa ban cho chúng ta niềm vui, ơn sủng và bình an.
07 Tháng Hai 20199:50 CH(Xem: 141)
Lời khai bút đầu tiên là con xin tạ Ơn Chúa, Đức Mẹ và Triều Thần Thánh trên Thiên Đàng đã ban muôn ơn lành cho chúng con, bảo vệ và thương xót, và cùng cầu bầu cho gia đình chúng con. Năm nay có một chuyện lạ xẩy ra là chồng của tôi vốn là người ít khi nào chú ý đến việc viết lách của vợ, thế mà sáng nay,
07 Tháng Hai 20199:48 CH(Xem: 141)
Hôm nay ngày Tết, tôi nhớ đến các Cha Bố thiêng liêng của tôi: 1. Cha Cố LM Giuse Ngô Văn Trọng, California. Cha Cố Trọng rất khôi ngô, tuấn tú, tóc cha cắt ngắn; đôi mắt cha sáng và đầy vẻ uy nghiêm. Năm 1963, khi tôi đến nhà thờ Nhà Nước Phanxico Xaviê ở Huế để học giáo lý hầu chuẩn bị chịu phép Thêm Sức...
07 Tháng Hai 20199:32 CH(Xem: 87)
Lúc này tại California vẫn còn là đêm 30 Tết, là giây phút thiêng liêng của đất trời, GĐ chúng con xin Tạ Ơn Chúa vì những hồng ân hạnh phúc và đau khổ, sức khoẻ và bịnh tật, lãnh nhận ơn sủng và mất mát vật chất đến tận cùng. Con không quên cầu nguyện cho các linh mục Cha Bố thiêng liêng của con, đó là Cố LM Giuse Ngô Văn Trọng,
28 Tháng Giêng 20197:04 SA(Xem: 162)
Sau 20 năm phục vụ tôi về lại chốn cũ Tòa Giám Mục Xã Đoài, nơi tôi xuất phát để đồng hành với các bệnh nhân và các linh mục hưu dưỡng tại Tòa Giám Mục. Theo giáo luật, một linh mục khi 75 tuổi sẽ viết đơn xin nghỉ hưu. Tôi mới 65 tuổi mọi người ngạc nhiên sao lại về nhà hưu sớm thế!
27 Tháng Giêng 20193:26 SA(Xem: 172)
Tại giáo xứ Thánh Linh đã có chương trình yểm trợ Ơn Thiên Triệu được 23 năm nay. Tính đến năm 2018, quỹ Ơn Thiên Triệu đã tài trợ hơn $440,000 cho việc học hành của các tu sinh tại giáo phận Orange.

XUA ĐUỔI QUÂN THÙ BẰNG CHUỖI KINH MÂN CÔI

21 Tháng Chín 20184:39 SA(Xem: 171)
cmcvatrethoXUA ĐUỔI QUÂN THÙ BẰNG CHUỖI KINH MÂN CÔI
Tác giả: Charles E. Schaffer
 
Bằng chứng của sự suy đồi lớn lao về đức tin và luân lý đã thể hiện ở thủ đô Vienna từ đầu thế kỷ rối loạn này.
Năm 1917, Mẹ Thiên Chúa hiện ra cho ba trẻ chăn chiên Bồ Đào Nha khiêm nhường ở Cova da Iria cách Fatima khoảng hai dặm đường.

Mẹ kêu gọi chúng ta tỏ lòng ăn năn sám hối tội lỗi của mình và tội lỗi của người khác - bằng cách cầu nguyện, ăn năn, và cải thiện đời sống.
Tháng 5 năm 1955, chiến dịch đền tạ bằng Chuỗi Kinh Rất Thánh Mân Côi, qua sự chuyển cầu của Thánh Bổn Mạng là Đức Mẹ Fatima, đã đem lại một phép lạ vẻ vang: Quân Xô-Viết rút khỏi đất Áo.
 
Khi nhân loại vửa trải qua cuộc chiến tranh thế giới kinh hoàng thứ nhất, Đức Mẹ hứa rằng sẽ có hoà bình, nếu người ta chú ý tới lời Mẹ dạy. Bằng không, Mẹ cảnh cáo rằng một cuộc chiến kinh khủng khác sẽ xảy ra với nhiều quốc gia sẽ biến mất khỏi bề mặt trái đất. Giáo Hội, do Con Chí Thánh Mẹ sáng lập, sẽ đau khổ vì bị bách hại, và Đức Thánh Cha, vị đại diện của Chúa Kitô ở dưới thế này, sẽ là đối tượng của nhiều cuộc khủng hoảng.

Để nhân loại sẵn sàng đón nhận thông điệp, trong lần hiện ra cuối cùng ở Fatima vào tháng 10 năm 1917, trước sự chứng kiến của hàng ngàn người – người tin lẫn kẻ hoài nghi - Đức Mẹ đã làm phép lạ mặt trời quay liên tiếp trên bầu trời và rồi lao về phía trái đất như rơi xuống trên đám đông bên dưới.

Cuộc Trừng phạt

Căn bịnh ung thư một thời được gọi là nền văn minh Kitô Giáo phát triển với tốc độ chết người. Triệu chứng di căn (metastasis) khắp nơi. Người tín hữu đã quên đi những giới răn của Chúa. Khủng hoảng bên trong Giáo Hội báo trước sự bội giáo vốn có thể làm cho Giáo Hội bị còi cọc bởi cuộc cách mạng Thệ Phản dị giáo hồi thế kỷ thứ XVI, khi những vụ tai tiếng và sự phát triển con số các giám mục công khai bất chấp những giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.

Từ cuối thế chiến thứ II, thế giới đã bị nhận chìm bởi những cuộc xung đột không ngừng trên khắp năm châu. Riêng chỉ những cuộc cách mạng cũng đã làm cho thế giới năm phen trở thành nạn nhân của Cuộc Chiến Lớn Lao cuối cùng (the last Great War: chỉ các cuộc thế chiến ở Âu Châu).

Cuộc bách hại Giáo Hội ở đất Moorish đã làm đổ máu hàng ngàn vị tử đạo. Xuyên suốt Âu Châu, phe Hồi Giáo cực đoan đang giành ưu thế, đe dọa chiếm lại nước Tây ban Nha và chiến thắng pháo đài của người Kitô Giáo khi Pháp, Đức, và Ý tỏ vẻ như sụp đổ bởi những tiếng khóc than rên xiếc hơn là một cú đánh mạnh mẽ.

Không ít bài phân tích đọc được đám mây đem đang quy tụ ở phía chân trời báo trước trận Thế Chiến thứ III, đang nỗi lên từ tận cùng những cuộc khủng hoảng ở Trung Đông, hay có thể, là từ những phản ứng cố chấp của cộng sản Nga đào hào xung quanh những vị thế quyền lực nhằm giành ảnh hưởng trước sự suy đồi của thế giới Tây Phương du nhập những thứ như báo Playboy (sách báo khiêu dâm) và MTV (Video ca nhạc). Thật vậy, trước sự xáo trộn của những biến cố xảy ra hằng ngày, tranh chấp toàn cầu sắp tới có thể nỗi lên bất cứ khoảnh khắc nào ở bất cứ phần đất nào trên thế giới.

Quá Khứ hay Mở Đầu?

Đây là trạng thái đáng buồn trên thế giới mà chúng ta đang sống, nhưng nếu chúng ta lắng nghe lời Đức Mẹ và trân trọng những gì Mẹ đòi hỏi ở Fatima thì sự thể sẽ ra sao? Lịch sử có thể cho chúng ta một vài ý tưởng.

Với sự phụ thuộc của Áo vào Đức tháng 3 năm 1938, vận mạng của hai nước này quấn chặt vào nhau không chia cách được. Đương nhiên, sự sụp đổ của khối xâm lăng Nazi đã quy tội cho Áo cũng như Đức.

Từ năm 1943, quân Đồng Minh bắt đầu tiên liệu về những biện pháp họ sẽ áp đặt trên khối Trục một khi họ đánh bại khối này. Họ dự định sẽ triệt phá nước Áo và tưởng thưởng lãnh thổ nước này cho các nước nạn nhân của khối Nazis, nhưng sau cùng, họ lại quyết định giữ nguyên tình trạng nước Áo, dưới sự chiếm đóng của khối Đồng Minh.

Tương tự như Đức, Áo bị chia thành bốn khu vực quản trị bởi Mỹ, Anh, Pháp và Xô-Viết. Vùng Đông Bắc (Lower Austria) của nước Áo được phân chia sau cùng. Đó là vùng đất có dầu mõ, nông nghiệp và kỹ nghệ, Đông Bắc là vùng đất trù phú của quốc gia và bao quanh thủ đô Vienna, cũng sẽ bị chia thành bốn khu vực.

Ý định của Xô-Viết

Không đầy hai năm, Đức được phép giành lại mức độ độc lập về chính trị đáng kể đối trong các khu vực thuộc về Mỹ, Anh và Pháp. Dưới lớp tro bụi của chiến tranh gây ra bởi những vị tiền nhiệm, Đế Quốc thứ III, Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc mới chỗi dậy. Mặc dầu vậy. Bao nhiêu năm qua đi dù không được ban bố, nước Áo vẫn không hề bị thu hẹp về quyền tự trị.

Xô-Viết cũng chú ý tới tuyên ngôn về lãnh thổ chống lại Áo qua Tito, nhà (cách mạng cộng sản) độc tài Yugoslavia, tưởng thưởng cho Cộng Sản đất đai của người thiểu số Croatian. Cộng Sản Nga, cũng rút lui trước cuộc nỗi dậy chớp nhoáng ở Vienna, thế lực này đang cố gắng tranh thủ quyền lực trên toàn cõi đất nước Áo.

Giữa thế kỷ XX, khi chiến tranh lạnh bắt đầu, rõ ràng là Liên Bang Xô-Viết không hề có ý định từ bỏ các lãnh thổ mà họ đã chiếm được ở Đông Đức hay ở Đông Bắc Áo, một chút nào so với dự tính lơi đi sự kìm kẹp trên các nước chư hầu Đông Âu. Ngày nay, chúng ta biết rằng mặc dầu sự kìm kẹp đó đã bị triệt hạ dưới thời Gorbachev vào cuối thập niên 1980, nhưng Nga không bao giờ để mất một nước nào mà họ đã khuất phục. Họ cũng không tuyên bố quyền thống trị khi xâm chiếm lãnh thổ yếu kém về lực lượng vũ trang, như họ đã đánh bại Đảng Cộng Hòa Tây Ban Nha trong cuộc Nội Chiến 1936 – 1939.

“Hãy làm như Mẹ dạy”

Được sự khuyên nhủ và lời cầu nguyện của các nữ tu thánh thiện, một linh mục dòng Phanxicô, cha Father Petrus Pavlicek, đã dẫn một đoàn hành hương tới Mariazell, một linh địa Đức Mẹ chính ở Áo, để xin Đức Trinh Nữ lời khuyên giữa đám mây đen đe dọa quê nhà. Ngày 2 tháng 2 năm 1946 Lễ Đức Mẹ Ánh Sáng, cha cầu nguyện sốt sắng trươc bức ảnh Phép Lạ và nhận được tiếng nói trong nội tâm khuyên cha như sau, “Hãy làm như Mẹ dạy và các con sẽ có hoà bình.”

Để tôn vinh lời thỉnh cầu của Đức Mẹ, canh tân lời nài xin của Mẹ ở Fatima, cha Pavlicek đặt nền móng cho Chiến Dịch Đền Tạ bằng chuỗi Kinh Mân Côi năm 1947. Qua Chiến Dịch này, nước Áo liên kết trong chuỗi Kinh Mân Côi 24 giờ đồng hồ, nài xin Đức Trinh Nữ Maria ban ơn hoán cải cho các tội nhân, cho hòa bình trên thế giới, và tự do cho nước Áo.

Các cha cha bề trên dòng Capuchin phê chuẩn cho cha Pavlicek, nhưng các ngài không thể hổ trợ về tài chánh. Mặc dầu vậy, nhờ sự giúp đỡ của Đức Cha Leiria, người Bồ Đào Nha, cha đã có được bức tuợng Đức Mẹ Fatima tạc bởi người điêu khắc gia đã tạc bức tượng Đức Mẹ Fatima Thánh Du Nguyên Thủy. Đồng Hành với Đức Mẹ thánh du qua vô số thành phố và làng mạc, cha Pavlicek nhắc nhỡ các tín hữu về ước muốn mãnh liệt của Đức Mẹ về sự hoán cải các tội nhân.

Lòng Nhiệt Thành cho các linh hồn

Cha Pavlicek chia sẻ lòng nhiệt thành của Đức Mẹ cho các linh hồn. Cha nài xin các tội nhân giao hòa với Chúa qua Bí Tích Giải Tội. Trong khi rao giảng trong 11 ngôi làng ở vùng Amstetten, cha đã giải tội cho 6,000 người. Trong một dịp khác, cha trụ ở tòa giải tội ba ngày ba đêm liên tục. Nhờ ơn Chúa, lòng nhiệt thành trong công việc tông đồ của cha sinh hoa quả dồi dào cho các linh hồn, bao gồm cả các tội nhân cứng lòng nhất.

Một hôm, cha Pavlicek đến với một người đàn ông đang kéo một chiếc xe chất đầy rơm nặng lên đồi, và lập tức đến giúp. Vì cha núp sau đống rơm khuất khỏi tầm nhìn của người nông dân nên khi lên đỉnh đồi người ấy mới phát hiện những gì đã xảy ra. Quay qua người ân nhân ông ấy nói, “bây giờ thì tôi hiểu được tại sao xe của tôi nhẹ như vậy.” Nhưng không chỉ gánh nặng mà người tu sĩ dòng Capuchin khiêm nhường làm cho nhẹ đi. Sau khi trao đổi vài câu pha trò, cha đã giải tội cho người bạn mới tìm được tại chỗ đó.

Một buổi sáng khi sắp dâng thánh lễ, cha Pavlicek thấy không có đàn ông và trẻ em ở các hàng ghế mà chỉ có đàn bà. Cha hỏi, “chồng con của các con đâu?” Khi được biết rằng họ sẽ vào nhà thờ sau khi cha giảng, cha không để mất chút thời gian nào. Rời bàn thánh, mặc áo lễ, cha lái xe ra cửa. Ở quảng trường thành phố, người chăn chiên lành trình bày với các chiên lạc chọn lựa như sau. “Các con có vào nhà thờ ngay không hay cha sẽ dâng lễ ngay tại chỗ này.” Và nhờ thế cha đã chấm dứt được tập tục xấu đó.

Bão trên thiên đàng

Tháng 9 năm 1948, cha Pavlicek khởi đầu sinh hoạt Chiến Dịch Sùng Kính Đền Tạ ở một nhà thờ ở Vienna. Đông đảo người đến với Hy Tế Thánh Thiện trong Thánh Lễ Misa, buổi sinh hoạt gồm có giảng thuyết, xưng tội, ban phép lành cho bệnh nhân và người yếu đuối, và đọc Kinh Mân Côi. Cha gọi việc sùng kính này là “Cầu Nguyện Đột Kích,” và thời gian có thể kéo dài năm ngày. “Hoà Bình là ơn Chúa, không phải là công việc của
những người làm chính trị,” cha nhắc nhỡ những người dân của cha như vậy. Và ơn Chúa đã có được qua việc cầu nguyện gây bão trên thiên đàng khi các chiến sĩ xông vào pháo đài - với lòng tin tưởng và quyết tâm.

Chiến Dịch rước tượng Đức Mẹ Fatima vào ngày 13 mỗi tháng phát triển rộng lớn khiến cha Pavlicek quyết tâm khởi sự việc rước kiệu hàng năm và mời gọi tất cả các giáo xứ ở Vienna tham gia để vinh danh Nữ Vương Trời Đất. Cha chọn ngày 12 tháng 9, lễ Thánh Danh Mẹ Maria, là ngày rước kiệu trọng thể này.

Đức Giáo Hoàng Innocent XI đã củng cố ngày lễ này năm 1683 để nhớ tới chiến thắng của đội quân Kitô Hữu, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ khi chúng bao vây Vienna. Ngày đó là biểu tượng, nhắc nhớ những kinh nguyện với lòng biết ơn Đức Mẹ vì chiến thắng vẻ vang quân Hồi giáo, trong khi nài xin Mẹ giải thoát khỏi cộng sản.

Sự Trợ Giúp của các Đấng

Như thế cha Pavlisek viếng Đức Hồng Y Vienna Theodor Innitzer để được sự trợ giúp của Đấng bản quyền. Bằng chứng là, người dân Áo đã chống đối việc  đem tượng Đức Mẹ Fatima tới nhà thờ dòng Capuchin, họ bảo rằng nhà dòng đã có một bức tượng ở đây rồi. “Chỉ có một Đức Mẹ thôi,” người nhắc nhỡ ám chỉ cha Pavlicek - người mà sau đó đã đếm tới 35 lần trình bày về Đức Thánh Nữ Đồng Trinh nơi nhà thờ chánh tòa.
 
Trong khi Đức Hồng Y While Cardinal Innitzer phó giao cho áp lực của công chúng trong việc tham dự buổi rước kiệu, thì ông Thủ Tướng Áo, Leopold Figl, không cần tới sự thúc giục này. Khi được mời lần thứ nhất, và biết được Đức Hồng Y từ chối lời mời gọi của cha, ông nhấn mạnh với cha Pavlicek, “Ngay cả khi chỉ có hai người trong chúng ta hiện diện, tôi cũng sẽ đi. Đất nước tôi đòi hỏi điều đó!” Thật vậy, trong mọi dịp quan trọng, ông đều có mặt ở đó - nến và cỗ tràng hạt trong tay – tháp tùng  với các thành biên trong nội các. Khi Julia Raab làm Thủ Tướng thay thế ông Leopold Figl năm 1953, ông cũng đảm đương vị trí này trong các buổi rước kiệu lớn.

Chiến dịch tiếp tục lan rộng, truyền bá khắp nước Áo và lan tràn qua các nước láng giềng Đức và Thụy Sĩ. Khoảng năm 1955, khoảng hơn một triệu người dân Áo - khoảng một phần mười dân – đã cam kết cầu nguyện hằng ngày với Đức Mẹ Fatima, nài xin Mẹ ban ơn hoán cải cho các tội nhân, cho hoà bình thế giới, và cho tự do nước Áo. Một con số còn lớn hơn nữa trong các cuộc rước kiệu Đức Mẹ gây bão trên thiên đàng bằng các kinh nguyện đột kích.
 
Thử Thách Đức Tin

Trong thời gian này, các hội nghị hòa bình được nhóm họp ở Luân Đôn giữa các đại diện của các nước Đồng Minh thắng trận và đại biểu Áo. Trong tám năm, 260 cuộc họp không hề đụng chạm tới kết cục vững chắc nào liên quan tới vận mệnh nước Áo.

Chiến tranh lạnh tăng cường mãnh liệt, và cộng sản thanh trừng chế độ bằng những biện pháp bách hại tôn giáo khi chiếm hữu các quốc gia. Dường như Chúa muốn thử thách đức tin của những người cầu nguyện sốt sắng cho tự do của quốc gia mình.

Khi đức tin của họ được thử thách đủ, thì ơn sủng mới được ban cho. Ngày 24 tháng 3 năm 1955, Chính quyền Xô-Viết với Áo họp. Tin tưởng rằng tương lai nước Áo sẽ bị Moscow xiết, Thủ Tướng Raab nài xin cha Pavlicek trước khi ra đi, “Xin hãy cầu nguyện, và xin dân chúng cầu nguyện nhiều hơn bao giờ hết.”
 
Trước sự ngạc nhiên của cả thế giới, vào tháng 4 Xô-Viết tuyên bố rút quân khỏi Áo trong vòng 3 tháng. Ngày 15 tháng 5, thế lực Đồng Minh chiếm Áo và ký hiệp ước bảo đảm quyền độc lập cho nước Áo. Áo được thoát khỏi sự chiếm đóng của Xô-Viết, cách riêng.

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, người Nga cuối cùng rút khỏi đất Áo, điều đó chỉ có thể được Đức nói tới vào  năm 1955.

Ở Vienna, vô số người rước kiệu diễn hành - đuốc và chuỗi kinh Mân Côi trong tay – với lòng biết ơn họ kiệu bức Tượng Đức Mẹ Fatima, Đấng đã được cứu thoát họ khỏi sự nô dịch của cộng sản. Tâm hồn tràn đầy âm vang lời nguyện cảm tạ dâng lên bởi ông Thủ Tướng:

“Hôm nay, lòng đầy niềm tin và với niềm vui, chúng con kêu lên thấu trời lời cầu nguyện: Chúng con đã được tự do! Lạy Mẹ, chúng con cảm tạ ơn Mẹ!”

 Fr. Petrus Pavlicek sinh ở Innsbruck-Wilten, Tyrol nước Áo, vào ngày 6 tháng 1 năm 1902. Cha của ngài là Augustin Pavlicek, là nhân viên trong quân đội Đế Quốc, và mẹ ngài là Gabriele Alscher Pavlicek, đến từ Moravia. Khi còn bé, ngài rời gia đình đi theo tiếng gọi tu trì, nhưng lớn lên vài năm sau đó ngài lại thờ ơ lãnh đạm. Năm 1935, trong cơn trọng bệnh, ngài nhận được ơn hoán cải và quyết tâm một lần nữa ấp ủ ơn gọi. Ngày 14 tháng 12 năm 1941, ngài được tấn phong làm linh mục dòng Capuchin. Phục vụ trong ban ngành về sức khỏe trong quân đội Đức, ngài bị quân đội Đồng Minh bắt ngày 15 tháng 8 năm 1994. Và được thả ra ngày 16 tháng 7 năm 1945, ngày lễ Đức Mẹ núi Camêlô, ngài trở vế Áo. Ở đó ngài sáng lập Chiến Dịch Đền Tạ Rất Thánh Mân Côi, qua đó ngài tận hiến phần còn lại của đời mình. Ngài mất ngày 14 tháng 12 năm 1982.