14 Tháng Tám 20198:04 CH(Xem: 66)
Tôi đã được ở trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng nhiều năm. Tôi cũng đã từng tham dự những khoá Canh Tân Trong Ơn Chúa Thánh Thần, được giảng dạy bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
14 Tháng Tám 20196:51 CH(Xem: 61)
Một phụ nữ là Thừa Tác Viên Thánh Thể đã chia sẻ như sau: "Tôi thường rước Mình Thánh Chúa đến cho các bịnh nhân tại các nhà thương. Có những bịnh nhân quá bịnh, quá già, không thể rước Chúa Giê su Thánh Thể được nữa. Tôi hay hỏi những người ngồi chăm sóc bịnh nhân rằng liệu họ đã gọi xin gặp các vị linh mục chưa.
12 Tháng Tám 20198:42 CH(Xem: 70)
Tôi vừa gặp một người quen ở nhà thờ Thánh Linh. Cô Mary đã từng đi hành hương Medjugorje với nhóm hành hương của tôi. Kỳ này cô từ tiểu bang khác sang California thăm gia đình. Cô vui vẻ kể:
09 Tháng Tám 20195:40 CH(Xem: 78)
"Nếu con đặt tình yêu của tất cả những người mẹ vào một trái tim cũng không bằng tình yêu của Mẫu Tâm Mẹ Maria dành cho các con của Mẹ." (St Louis de Monfort)
08 Tháng Tám 20197:33 CH(Xem: 77)
Lâu lắm tôi không viết cảm nghiệm nữa vì bận sưu tầm, dịch thuật hơn 300 bài Lời Hay Ý Đẹp và hơn 120 câu nói đánh động. Ngoài ra còn thâu thanh và phát thanh Radio GCM.
06 Tháng Bảy 20196:54 CH(Xem: 76)
Trong mối tương quan xã hội, có nhiều loại người khác nhau. Nhưng đa số được xếp loại như sau: 1. "I know it all": Tôi biết hết mọi sự, khỏi cần ai dạy dỗ hay điều khiển. 2. Làm việc rất ít nhưng chuyên loan tin và nói chuyện đồn thổi. 3. Lười biếng nhưng không muốn ai giúp. Trên bàn họ để đầy hồ sơ giống như một người có quá nhiều việc đến nỗi làm khôn
27 Tháng Sáu 20196:17 CH(Xem: 259)
LTS: Một người trẻ từ Virginia gửi bài cho chúng tôi: Bởi Vì Lòng Xót Thương Chúa quá cao vời và Mẹ Maria luôn đoái thương nhân loại yêu đuối chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con. Amen.
25 Tháng Sáu 20194:54 SA(Xem: 200)
Con học được nhiều điều tốt ở nền văn hoá Mỹ là: 1. Luôn cảm ơn (Thank You), xin lỗi (Pardon me, Excuse me), tôi lấy làm tiếc (Sorry), làm ơn (Please). 2. Khi phải đi qua mặt người khác, khi đụng vào ai, khi đi lách vào hàng ghế trong nhà thờ...thì họ luôn mỉm cười và nói xin lỗi. 3. Khi bị ho hay bị hắt hơi, họ lấy giấy che miệng,
23 Tháng Sáu 20196:44 CH(Xem: 361)
Trong bài trước, tôi đã kể về những gian nan, khốn khó của vị linh mục mà tôi gọi là cha Joe. Ngài kể tiếp: "Thật sự ở Mỹ, người ta không đói về vật chất nhưng lại đói khát về tinh thần. Nhất là những người sang Mỹ một mình, không gia đình, không thân nhân và không rành tiếng Anh. Nếu không tiền bạc,
23 Tháng Sáu 20193:06 CH(Xem: 204)
Cách đây khoảng 7 năm, có một vị linh mục ở vùng tiểu bang lạnh miền đông bắc nước Mỹ đã đọc về đề tài Đức Mẹ Medjugorje trên www.memaria.org và memaria.net của chúng tôi. Vì thế, ngài gọi điện thoại kể rằng chính ngài cũng nhận được rất nhiều ơn lành của Đức Mẹ Medjugorje. Gần đây, ngài lại gọi điện thoại cho tôi và kể cho tôi nghe về cuộc đời ba chìm bẩy nổi...

Bài 10: CN851 Thánh Têrêsa Avila, Tiến Sĩ Hội Thánh

10 Tháng Tư 20197:15 SA(Xem: 141)

tdavilaBài 10: CN851 Thánh Têrêsa Avila, Tiến Sĩ Hội Thánh

LNĐ: Để giúp quý đọc giả hiểu thêm về cuộc đời Thánh Nữ Têrêsa Avila, chúng tôi xin trích hai bài nói về Thánh Nữ Têrêsa Avila. Bài thứ nhất của phó tế Huỳnh Mai Trác và bài thứ hai trích trong tác phẩm Têrêsa Avila, Tiểu Sử Tự Thuật. Ước mong sau khi biết rõ về vị thánh này, chúng ta sẽ yêu mến Thánh Nữ Têrêsa nhiều hơn.

1. Tiểu sử Thánh Têrêsa Avila:

Thánh Têrêxa de Ahumada sinh tại Avila, nước Tây Ban Nha vào năm 1515. Bà là con người rất nhiệt tình và đam mê. Từ lúc còn nhỏ, bà đã muốn làm thánh tử đạo bằng cách đến cao rao Lời Chúa trong vùng người Hồi giáo Maures chiếm đóng. Lòng ước muốn tuy cao độ nhưng lại thích làm dáng và ham thích đọc sách hiệp sĩ lãng mạn.


Đến năm 20 tuổi thì Têrêxa xin gia nhập Dòng Carmel nơi quê quán và cho mãi đến năm 40 tuổi thi cuộc đời tu hành của bà không có gì đặt biệt: một nếp sống rất thường và rất thế tục. Vào năm 1555 thì ân sủng của Thiên Chúa đổ tràn trên bà và thay đổi hoàn toàn cuộc của đời bà: Từ nay Têrêxa de Ahumada trở thành Têrêxa của Chúa Kitô.


Từ nay trở đi, người đàn bà tình cảm dào dạt, dể mến và rất thu hút không còn để lòng mình ham mế thế gian mà hướng đến một tình yêu cao cả là Thiên Chúa, nhưng đây không phải là mơ mộng “bay bổng lên bảy tầng trời”. Nhưng chính là một sự bí nhiệm được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, Têrêxa là một người hăng hái hoạt động. Trong ba mươi năm cuối đòi bà đã trở thành một nhà cách mạng cải tổ Dòng Carmel


Khởi đầu từ thành phố Avila, Têrêxa thành lập một tu viện kính dâng lên thánh Giuse. Tôn chỉ của tu viện là hướng dẫn các nữ tu vui sống một cuộc đời nghèo khó. Tiếp đến bà hăng hái chỉ trích và đề nghị sữa đổi lại luật Dòng Carmel Nam. Mặc dù bị chống đối và bị đàm tiếu, bà luôn có thánh Gioan Thánh Giá ủng hộ nâng đỡ, ngài là một môn đệ và cũng là người bạn trung thành.

Tuy gặp khó khăn chống đối nhưng Têrêxa cũng đã thành lập được 18 tu viện Dòng Carmel Nam Và Nữ với những cải cách làm sáng tỏa ánh sáng Phúc Âm trong thế kỷ thứ XVI.


Mẹ Têrêxa cũng là một nhà viết văn tôn giáo vĩ đại. Các tác phẩm của Mẹ là những tác phẩm lớn của văn chương Tây Ban Nha. “Con đường đi đến toàn thiện”, “Lâu đài nội tâm”. “Quyển sách của những nền tảng” và một số thư tín chứng tỏ Mẹ có một căn bản tình yêu thâm hậu với Đấng Kitô (“Chỉ sống riêng một mình cho Chúa Kitô”).


Thánh Têrêxa Avila được tuyên xưng là Tiến sĩ của Hội Thánh vào năm 1970 cùng một lượt với thánh Catherine de Sienna.

Vào ngày 15 tháng 10 năm 1582, Mẹ Têrêxa Avila đã có được một thị kiến với Thiên Chúa ở Alba de Tormes. Chúng ta hãy lắng nghe lời Mẹ Têrêxa nói lại với chúng ta: “Không có gì có thể làm cho bạn sợ hãi, mọi sự sẽ qua đi nhưng chỉ một mình Thiên Chúa là không bao giờ thay đổi!”

(Phó Tế Huỳnh Mai Trác)


2. Thánh Têrêsa Avila tự thuật:


LM Baltasar Alvarez bắt đầu hướng dẫn tôi tiến lên bậc hoàn thiện hơn. Ngài bảo tôi không được bỏ qua điều gì mà không làm để làm vui lòng Chúa cách hoàn toàn, và ngài xử với tôi một cách rất cương nghị nhưng cũng rất dịu dàng, vì linh hồn tôi còn quá yếu đuối, chưa mạnh mẽ tí nào cả, nhất là chưa thể từ bỏ một tình bạn mà thực tế không làm tôi xúc phạm đến Thiên Chúa.


Tôi còn lưu luyến quá nhiều vào những mối tình này và dường như đối với tôi, nếu tôi dứt bỏ thì tôi sẽ mang tội vô ơn. Bởi vậy tôi hỏi ngài tại sao tôi lại cần phải mang tội vô ơn, nếu tôi không xúc phạm đến Thiên Chúa. Ngài bảo tôi hãy trao vấn đề cho Thiên Chúa và hãy đọc kinh Veni Creator (Xin Chúa Ngôi Ba) trong một thời gian, xin Chúa soi sáng cho biết hành động thế nào thì tốt hơn. Vậy tôi dành phần lớn thời giờ trong ngày để cầu nguyện, và tôi cầu xin Chúa giúp tôi biết làm vui lòng Ngài trong mọi sự. Bấy giờ tôi đọc kinh Veni Creator.


Khi tôi đang đọc thì đột nhiên tôi ngất trí, hầu như tôi bị đem mất hút đi vậy. Sự kiện quá hiển nhiên, tôi không thể lầm lẫn được. Đây là lần đầu tiên Chúa ban cho tôi ơn xuất thần. Trong khi xuất thần, tôi nghe thấy những lời này:


“Ta muốn con từ nay nói chuyện với các thiên thần chứ không nói với người đời nữa.”


Cơn xuất thần này làm tôi xúc động mạnh mẽ và những lời nói với tôi đó vang lên tự chốn thẳm sâu của linh hồn tôi. Vì thế, tôi sợ hãi, nhưng đàng khác, những lời ấy cũng đem lại cho tôi tràn đầy an ủi, và sau khi nỗi kinh hoàng do cảm nghiệm lạ lùng đã tan biến thì niềm an ủi này vẫn tồn tại trong tôi.

Những lời này đã trở thành sự thực, vì từ lúc đó trở đi, tôi không bao giờ còn có thể duy trì tình bạn thắm thiết với ai, cũng chẳng tìm được an ủi hay luyến ái riêng tư với bất cứ ai khác, ngoài nơi những người tôi tin là họ yêu mến Thiên Chúa và nỗ lực phụng sự Người. Không phải do sức riêng của tôi mà tôi có thể hành động được như thế, đối với bà con ruột thịt, tôi cũng xử sự thế thôi. Khi phải giao tiếp với một người mà tôi không biết họ có yêu mến Thiên Chúa hay có thực hành cầu nguyện hay không, thì đó là một thánh giá cho tôi. Tâm trạng này là sự thật tuyệt đối.


Từ ngày đó, tôi đã có đủ can đảm để từ bỏ mọi sự vì Thiên Chúa, Đấng trong giây lát-tôi nghĩ biến cố đó diễn ra chỉ trong giây lát-đã đoái thương biến đổi tôi tớ của Người nên một con người khác. Vì thế cha giải tội chẳng cần phải truyền cho tôi một mệnh lệnh nào khác nữa. Khi ngài thấy tôi quá gắn bó vào những tình bạn này, ngài đã không dám ra lệnh cho tôi phải dứt bỏ. Ngài nói ngài phải đợi cho chính Chúa thực hiện việc thay đổi này.

Thoạt đầu, tôi nghĩ là tôi sẽ chẳng thể nào dứt bỏ đi được, tôi cũng đã thử rồi, nhưng thấy đau đớn quá nên tôi phải bỏ ý nghĩ ấy đi, vì tình bạn xem ra không có chi là xấu. Nhưng bây giờ Chúa đã giải phóng tôi và ban cho tôi sức mạnh để thi hành điều tôi dốc quyết.


Vậy tôi nói điều này với cha giải tội và tôi từ bỏ mọi sự, đúng y như ngài dạy tôi thi hành. Khi những người bạn thân thiết với tôi thấy tôi dứt khoát như thế, thì họ cũng suy nghĩ rất nhiều.


Chúc tụng Thiên Chúa đời đời, Đấng trong giây lát đã ban sự tự do mà tôi đã cố gắng hết sức trong nhiều năm và đôi khi đã ức chế chính mình đến phương hại cho sức khỏe mà vẫn không bao giờ có thể đạt được. Còn đây là công cuộc của Đấng toàn năng và là Chúa chân thật của mọi sự nên nó chẳng gây cho tôi đau khổ nào.”

(Chương 24, trang 202-203 Sách Têrêsa Avila, Tiểu Sử và Tự Thuật)