Saturday, March 6, 20216:02 AM(View: 15)
Trong suốt một năm nay, kể từ tháng 3 năm 2020 trở đi, nhà thờ bị đóng cửa cho đến tháng 6 năm 2020 mới cho hoạt động lại. Sau đó, các cha phải mua các lều vải về giăng lên để mọi người có thể tham dự Thánh Lễ ngoài trời. Đó là theo luật lệ của California. Trời California rất khô hạn, rất ít mưa và thường hay có gió Santa Ana mà người ta thường gọi là Devil Wind...
Saturday, March 6, 20215:24 AM(View: 16)
Một bà trong nhóm đọc kinh hàng ngày của chúng tôi đã được chích ngừa COVID 19 lần thứ nhất. Thế mà vì đại gia đình bà có nhiều người mắc bịnh COVID nên bà cũng bị lây bịnh ấy luôn. Khi bình phục, bà cho biết là phải đợi 30 ngày sau thì bà mới có thể đi chích ngừa lại lần 1 và sau đó là lần 2. Vị linh mục ở nhà thờ của tôi nói rằng: Chích ngừa COVID thì không chết...
Friday, March 5, 20212:21 AM(View: 23)
Kể từ ngày 17/3/2020, Huynh Đoàn Đa Minh thuộc giáo xứ Thánh Linh của chúng tôi đã mở một chương trình Zoom để mọi người mỗi ngày 3 lần gọi điện thoại vào để cùng cầu nguyện chung với nhau. Thế mà đã được một năm trường rồi. Mau thật! Cứ mỗi 10 giờ sáng thì chúng tôi cùng đọc kinh Phụng Vụ và các kinh khác và cầu nguyện cho nhu cầu của thế giớI
Friday, March 5, 20212:18 AM(View: 23)
Tôi nghe cảm nghiệm này khoảng 16 năm về trước, khoảng năm 2005, do Đức Viện Phụ Vương Đình Lâm chia sẻ khi chúng tôi theo cha Nguyễn Đăng Đệ lên thăm Đức Viện Phụ Lâm nơi sắp sửa trở thành Đan Viện Thánh Giuse ở vùng San Bernardino, California. Đức Viện Phụ Lâm rất hiền lành và đạo đức. Cha luôn nhỏ nhẹ nói chuyện và ân cần giảng dạy. Ngài đã tặng cho tôi một cây...
Friday, March 5, 20212:15 AM(View: 20)
<p>Gia đình của bà Teresa rất sùng kính Thánh Giuse. Bà bảo rằng gia đình xin ơn gì thì Ngài cũng ban cho. Sau đây là lời kể cảm nghiệm của gia đình bà về ơn Thánh Giuse: <p>"1. Hồi năm tôi còn bé là năm Ất Dậu 1945, ba tôi mua một tượng Thánh Giuse về để cầu nguyện. Tôi nhớ rằng ba tôi trả giá 6 đồng cho tượng ấy. Thế mà không hiểu sao khi ba tôi mở hộc bàn thì
Sunday, February 28, 202112:14 PM(View: 27)
Thành phố Mexico City rúng động bởi câu chuyện của anh Juan, 60 tuổi. Anh ta bước vào nhà thờ để cầu nguyện trước khi Thánh Lễ bắt đầu. Khi anh đang còn quỳ thì anh chết ngay dưới bàn thờ. Sau cái chết của anh, cảnh sát và xe cứu thương đến, rồi họ cho phép vị linh mục chính xứ cử hành Tang Lễ cho anh. Có rất nhiều giáo dân tham dự Tang Lễ của anh.
Sunday, February 28, 202110:30 AM(View: 32)
1. Chị Hương Nguyễn kể: "Mẹ tôi có lòng sùng đạo sâu xa. Bà có lòng sùng kính Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse cách đặc biệt. Bà lần chuỗi Mân Côi rất nhiều lần trong mỗi ngày. Bà được ơn soi sáng nên biết nhiều điều mà không do bà học hỏi mà ra. Khi mẹ tôi gần hấp hối, bà tuyên bố cách mạch lạc: "Chúa cho mẹ biết rằng mẹ sẽ chết vào 3 ngày nữa. ..
Saturday, February 27, 202111:09 AM(View: 33)
Không có gì vui cho bằng trong giáo xứ mình có một vị linh mục thánh thiện, vui vẻ và lịch sự. Giáo xứ của tôi may mắn có được một vị linh mục trẻ, vui tính, ân cần và rất lịch sự.
Friday, February 26, 20212:13 AM(View: 40)
Cổ nhân thường nói: " Ăn ở hiền lành để đức cho con.' Hoặc là; "Đời Cha ăn mặn, đời con khát nước."
Thursday, February 25, 20211:29 PM(View: 51)
Sáng nay tôi gặp lại cô bạn trẻ. Tôi biết cô ngoan đạo nên xin cô cầu nguyện cho gia đình tôi. Cô ấy bảo tôi: "Chị cứ cầu nguyện chăm chỉ và xin tuân theo Thánh Ý Chúa, đừng xin theo ý riêng mình. Suốt cuộc đời, em nghiệm ra Chúa luôn chăm sóc mình và Ý Chúa thì tốt đẹp hơn ý mình.

LỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY CHÚA NHẬT TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN, C SỐNG LỜI CHÚA TIN MỪNG : Lc 20,27-38

Saturday, November 9, 20193:09 PM(View: 404)

mecttLỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY
CHÚA NHẬT TUẦN XXXII THƯỜNG NIÊN, C
SỐNG LỜI CHÚA

TIN MỪNG : Lc 20,27-38

Đức Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

Khi ấy, có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su : “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này : Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. Người thứ hai, rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ ?”

Đức Giê-su đáp : “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”

SUY NIỆM-KHOA SƯ PHẠM GIÊSU

“Bệnh thành tích” là vấn nạn của ngành giáo dục Việt Nam ngày nay. Người ta chỉ chú trọng vào thành tích, số lượng mà xem nhẹ chất lượng cũng như những giá trị nhân bản nền tảng trong việc giáo dục con người.

Hôm nay, những người thuộc phái Xađốc đến gặp Đức Giêsu và dùng luật Môsê, dùng uy tín của Môsê mà thử thách Người. Còn Đức Giêsu, Người am hiểu luật Môsê, cũng đã dùng uy tín của ông Môsê mà đáp lại họ. Đức Giêsu đã đưa ra một đường lối giáo dục căn bản đáng để chúng ta suy ngẫm. Đó là đường lối giáo dục tiệm tiến dựa trên nền tảng đã có sẵn. Vậy, nếu những người Xađốc trân trọng luật Môsê và ông Môsê thì họ phải nhận ra Đức Giêsu là Đấng nào. Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa.

Suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng và đường lối sư phạm của Đức Giêsu hôm nay, mời gọi mỗi người chúng ta can đảm đến với ngôi trường Giêsu, đến với lớp học của tình thương. Hơn hết, đó là một đường lối tiệm tiến, tôn trọng cá nhân, giáo dục con người từ những gì họ sẵn có. Đức Giêsu nương theo cái biết của con người và từ từ dẫn dắt họ đón nhận mặc khải của Thiên Chúa.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết dấn thân trong đường lối sư phạm của Ngài, hầu cảm nghiệm rằng Ngài luôn nâng đỡ ủi an, dạy dỗ bảo ban. Amen.

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO
Lễ cầu cho các linh hồn bắt đầu từ đâu?


Phụng vụ dành ngày 2 tháng 11 để kính các linh hồn. Nguồn gốc lễ này bắt đầu từ đâu? Nó có giống với lễ Vu lan trong Phật giáo không?


Như chị đã biết, lễ Vu lan được cử hành vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là Tết Trung nguyên. Có lẽ lễ này không bắt nguồn từ Phật giáo, nhưng từ phong tục dân gian. Dù sao, trọng tâm của niềm tin ngày rằm tháng bảy âm lịch là “xá tội vong nhân”: vào ngày này, các tội nhân dưới âm phủ được giải thoát. Thân nhân những người mới qua đời tổ chức lễ cầu siêu. Nguồn gốc của lễ các linh hồn bên Công giáo thì khác, với nhiều giai đoạn tiến triển khác nhau. Ta có thể lấy một mốc điểm lịch sử là ngày 2 tháng 11 năm 998, để từ đó theo dõi sự tiến triển khi đi ngược hay đi xuôi.


Tại sao lấy ngày 2 tháng 11 năm 998 làm mốc điểm?


Tại vì theo lịch sử, thánh Ôđilon, viện phụ thứ năm của đan viện Cluny dòng Biển đức đã ấn định dành ngày 2 tháng 11 (nghĩa là ngày hôm sau lễ kính các thánh) để cầu nguyện cho tất cả các tín hữu đã qua đời, qua việc dâng thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện và làm việc bác ái.


Tại sao chọn ngày 2 tháng 11?


Như vừa nói, cha Ôđilon chọn ngày 2 tháng 11 bởi vì liền kế ngày 1 tháng 11. Vào ngày này, phụng vụ mừng lễ kính tất cả các thánh, nghĩa là các tín hữu đã lìa đời và đang được hưởng hạnh phúc ở bên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng bên cạnh các phúc nhân, còn có những tín hữu khác đang trải qua cuộc thanh luyện. Vì thế, chúng ta cũng hãy nhớ cầu nguyện cho họ.


Đây là một tư tưởng do cha Ôđilon gợi ra phải không?


Chúng ta cần phân biệt nhiều khía cạnh: việc dành ngày 2 tháng 11 để cầu cho tất cả những người qua đời là sáng kiến của cha Ôđilon. Nhưng việc cầu nguyện cho những người đã qua đời thì đã có từ lâu rồi, mãi từ cuối thời Cựu ước, như chúng ta đọc thấy chứng tích trong sách Macabê, quyển hai, chương 12, khi ông Macabê quyên tiền gửi về đền thờ Giêrusalem để cầu nguyện cho các tử sĩ. Trong Tân ước, ta cũng thấy thánh Phaolô khuyên ông Timôthêô hãy cầu nguyện cho Onêsiphorô, một cộng tác viên với thánh Tông đồ tại Êphêsô (2Tm 1,16-18). Dĩ nhiên, tập tục này được duy trì trong suốt lịch sử của Hội thánh. Còn việc dành một ngày trong năm phụng vụ để cầu cho tất cả các linh hồn thì cũng đã có trước cha Ôđilon từ ba thế kỷ.


Tại sao phải cầu nguyện cho những người qua đời?


Việc tưởng nhớ những người qua đời được gặp thấy nơi nhiều dân tộc, với nhiều ý nghĩa khác nhau. Có khi việc tưởng nhớ người quá cố là dịp để thân quyến gặp gỡ nhau, để ôn lại công đức tiền nhân, bày tỏ lòng tri ân ngưỡng mộ, đồng thời khuyến khích nâng đỡ nhau trên đường đời. Có nơi thì tin rằng hương hồn của tổ tiên vẫn còn hiện diện với con cháu, vì thế họ được mời đến tham dự những biến cố quan trọng của gia đình, cũng giống như lúc sinh tiền. Có nơi tổ chức cúng giỗ để cung cấp lương thực và đồ dùng cho người quá cố, bởi vì người ta tin rằng những người bên kia thế giới cũng có những nhu cầu và sinh hoạt giống như ở đời này. Có nơi thì tổ chức lễ cầu siêu, xin cho các linh hồn còn bị giam ở địa ngục được giải thoát. Dĩ nhiên, không phải tất cả các quan niệm này đều phù hợp với đức tin Kitô giáo.


Thế thì các Kitô hữu cầu nguyện cho các người qua đời để làm gì?


Trong việc cầu nguyện cho những người qua đời, có khá nhiều động lực khác nhau. Trước hết, chúng ta không thể nào bỏ qua khía cạnh tâm lý: những buổi cầu nguyện bên cạnh quan tài người chết hoặc vào dịp giỗ giáp tháng giáp năm nhằm bày tỏ sự thương tiếc người đã qua đi. Thế nhưng bên cạnh động lực tâm lý, dần dần đức tin Kitô giáo đã mang đến nhiều động lực mới. Ngay từ những lá thư đầu tiên (tựa như thứ thứ nhất gửi các tín hữu Thêxalônica, chương 4, câu 13), thánh Phaolô đã nhắc nhở các tín hữu đừng buồn rầu như những kẻ thiếu niềm hy vọng. Thực vậy, đối với người tín hữu, cái chết không phải là sự tận diệt của cuộc sống, mà chỉ là ngưỡng cửa bước sang cuộc sống vĩnh cửu. Vì thế, các tín hữu tiên khởi gọi ngày qua đời là “sinh nhật” (dies natalis), bởi vì họ được sinh vào cuộc sống mới. Điều này được áp dụng đặc biệt cho những vị tử đạo. Không lạ gì mà vào ngày giáp năm ngày tử đạo, các tín hữu họp nhau lại để đọc hạnh tích của vị tử đạo, không những để khuyến khích nhau bắt chước tấm gương can đảm, nhưng nhất là để tạ ơn Chúa vì đã cho một tín hữu được hoà đồng với Đức Kitô. Nói cách khác, việc mừng các vị tử đạo được liên kết với Thánh lễ, tức là lễ hy sinh của Đức Kitô. Các vị tử đạo là những người đã đi theo sát với Thầy mình trên đường thập giá, cho nên chắc chắn họ cũng được thông dự vào sự phục sinh với Người.


Nhưng mà đâu phải tất cả các tín hữu đều tử vì đạo?


Đúng rồi. Khi kính nhớ các vị tử đạo, các tín hữu xác tín rằng các ngài đang được hưởng vinh quang với Chúa rồi. Đó là buổi cử hành vui tươi. Thế nhưng không phải tất cả các tín hữu đều chết vì đạo. Nói cách khác, không phải tất cả các tín hữu sau khi qua đời đều nắm chắc sẽ được hưởng vinh quang với Chúa. Vì thế, những người qua đời cần được Hội thánh cầu nguyện để được thanh luyện khỏi tội lỗi, như chúng ta thấy phản ánh nơi đoạn văn trích từ sách Macabê quyển 2 chương 12 đã nhắc đến trên đây.


Chúng ta chỉ cần trưng dẫn một chứng tích thì đủ rõ. Trong sách Tuyên xưng (Confessiones hay Tự thuật), thánh Augustinô kể lại lời trối trăn của thân mẫu Monica rằng: “Các con có thể chôn xác mẹ ở đâu cũng được. Mẹ chỉ xin các con một điều là dù các con ở đâu, thì hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa”. Câu nói này phản ánh một tập tục đã có từ lâu đời, đó là cầu nguyện cho các người qua đời trong khi dâng Thánh lễ. Thánh lễ là nơi mà các tín hữu sống cao độ tín điều về sự “thông hiệp các thánh”. Thực vậy, không những các tín hữu thông hiệp vào Mình và Máu của Chúa Kitô, nhưng còn thông hiệp với Nhiệm thể của Chúa là Hội thánh. Các Kinh nguyện Thánh Thể đều nhắc đến sự thông hiệp với Đức Maria, các thánh, các phúc nhân, và tất cả những ai đã ly trần. Sự tưởng nhớ này không những chỉ tuyên xưng rằng các người qua đời vẫn còn sống (chứ không bị hủy diệt ra tro bụi), nhưng còn cầu xin Chúa nhân lành thương xóa bỏ những thiếu sót của họ. Dĩ nhiên, không phải chỉ chúng ta (những người còn sống) chuyển cầu cho các người qua đời, nhưng là cả Hội thánh (nghĩa là kể cả Đức Kitô, Đức Maria và các phúc nhân) đều liên đới chuyển cầu cho các linh hồn. Ngoài việc cử hành Thánh lễ, Hội thánh cũng cầu nguyện cho các người qua đời bằng những kinh nguyện khác, cũng như bằng các công tác bác ái.

Lúc nãy, cha nói rằng việc cầu nguyện cho người qua đời đã có từ Cựu ước, còn việc dành một ngày để cầu cho tất cả những người qua đời thì mới chỉ thành hình từ thế kỷ VII. Lai lịch tục lệ này như thế nào?

Trên đây, chúng ta nhắc đến lễ Trung nguyên, một ngày mà tục lệ dân gian ở Á đông cầu siêu cho các vong nhân. Ở Rôma thời cổ, cũng có một ngày cầu siêu như vậy, vào ngày 22 tháng hai dương lịch (nghĩa là vào ngày cuối năm theo lịch cổ Rôma). Không lạ gì mà nhiều nơi trong Giáo hội công giáo cũng muốn dành ra một ngày để cầu nguyện cho tất cả các người qua đời. Chứng tích cổ nhất là bản luật các đan sĩ của thánh Isiđorô Sevilla bên Tây Ban Nha (+636), truyền dâng Thánh lễ cho tất cả các người qua đời vào ngày thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Vào các thế kỷ sau đó, người ta thấy tại nhiều đan viện tại Đức, Pháp, Ý, chỉ định một ngày trong năm để cầu cho hết các linh hồn, tuy không trùng ngày như nhau. Với cha Ôđilon, thì ngày này được ấn định sau lễ kính các thánh. Nhờ uy tín của các đan viện Cluny, tục lệ này sớm lan tràn khắp châu Âu từ thế kỷ XI.

Tục lệ mỗi linh mục dâng ba thánh lễ nhân ngày kính các linh hồn cũng bắt đầu từ thánh Ođilôn, phải không?

Không phải, tập tục này ra đời muộn hơn, bắt đầu từ cuối thế kỷ XV với các cha dòng Đaminh ở Valencia (Tây Ban Nha). Đức thánh cha Bênêđictô XIV năm 1748 châu phê tập tục này và nới rộng cho tất cả các linh mục bên Tây ban nha, Bồ đào nha, châu Mỹ la-tinh. Mãi đến năm 1915, đức thánh cha Bênêđictô XV mới nới rộng ra toàn thể Hội thánh. Dù sao, nên biết là Hội thánh không chỉ dành mỗi năm một ngày để tưởng nhớ các người đã qua đời. Nhiều tu viện và giáo xứ vẫn có thói quen cầu nguyện cho các linh hồn mỗi ngày, hay ít là mỗi tuần vào ngày thứ hai.

Tại sao dành ngày thứ hai để cầu nguyện cho các linh hồn?

Nguồn gốc tục lệ này là một quan điểm hơi kỳ quặc vào thời Trung cổ. Người ta cho rằng các linh hồn ở luyện ngục được xả hơi vào Chúa nhật để mừng Chúa Phục sinh, và qua ngày thứ hai, lại phải tiếp tục lao động. Vì thế, chúng ta nên giúp cho họ một tay. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta có thể cầu nguyện cho các linh hồn vào bất cứ ngày nào mà không cần đếm xỉa đến tập tục đó.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.