Saturday, April 10, 202111:57 AM(View: 4)
Nguồn: Bản tin Medu ngày 15 tháng 8 năm 2003: “Tôi còn nhớ vài năm trước đây, tôi đã cùng ông Francis Gajowniczek trò chuyện. Thánh Maximilien Kolbe đã thay ông bước vào hầm để chịu đói cho đến chết.
Saturday, April 10, 202111:51 AM(View: 4)
Đây là câu chuyện chữa lành thật sự xẩy ra tại Medjugorje, Nam Tư, do ông Wayne Weible, một ký giả gốc Tin Lành kể lại. Trước đây, chúng tôi đã đăng phép lạ chữa lành này trên website: www.memaria.org, và đã đọc bài dịch thuật trên Radio Giờ Của Mẹ vào tháng 9 năm 2003.
Saturday, April 10, 202111:34 AM(View: 3)
LNĐ: Đây là cảm nghiệm thứ hai của bà Trâm Phạm (tên thật). Bà là một cư dân của thành phố Midway City, thuộc Orange County, California. Bà cũng là một trong các khách hành hương đi viếng Đức Mẹ Guadalupe vào tháng 2 năm 2007 vừa qua. Bà chia sẻ cho cả nhóm trong lúc đi xe buýt để tới thăm thành phố Cholula và Puebla, Mexico.
Friday, April 9, 20211:16 PM(View: 6)
Nguồn: ChildrenofMedjugorje.com 1. Cảm nghiệm cuộc đời Cha Mark: Khi đi xuống núi Krizevac sau chặng đàng thánh giá, chị nữ tu Briege thuật lại cho tôi phần tiếp theo của câu chuyện như sau:
Friday, April 9, 202111:57 AM(View: 6)
Nguồn: Medjugorje Magazine Theo báo Medjugorje Magazine thì bà Susan được gọi là “Người Vô Địch Của Các Linh Hồn Ở Luyện Ngục”. Khi bà Susan nói về các linh hồn thì bà nói thao thao bất tuyệt. Trước khi qua đời, LM Stephen Barham nhận xét về bà Susan như sau: “Bà Susan Tassone luôn nhắc đến các linh hồn ở luyện ngục, đôi lúc bà ấy làm cho ta mỏi...
Friday, April 9, 20217:21 AM(View: 17)
Nguồn: Việt Báo Nhật báo Việt Báo, xuất bản tại quận Orange (Cam), miền nam California, số phát hành thứ Bảy ngày 26-6-2004, đã đăng tấm hình chụp và chú thích “HÀNH HƯƠNG TƯỢNG ĐỨC MẸ”. LM Nguyễn Thanh Sơn, DCCT đã đi trong nhóm của chúng tôi năm 2004.
Friday, April 9, 20216:43 AM(View: 16)
NGÀY 24/6/2021 LÀ KỶ NIỆM 40 NĂM NGÀY ĐỨC MẸ HIỆN RA TẠI LINH ĐỊA MEDJUGORJE, NUOC BOSNIA/HERZEGOVINA(1981-2021). XIN HÃY CẦU NGUYỆN!
Friday, April 9, 20216:30 AM(View: 11)
Ông Albert Clark là một người bạn Mỹ mà chúng tôi gặp trong cuộc hành hương đến vùng Betania, nước Venezuela, Nam Mỹ. Tuy ở Betania, Nam Mỹ nhưng có điều lạ lùng là chúng tôi gặp nhau và luôn chia sẻ với nhau về các ơn lành mà Chúa và Đức Mẹ Maria ban cho ở Medjugorje, Nam Tư. Sau mỗi bữa cơm chiều, chúng tôi thường hay ngồi nói chuyện...
Friday, April 9, 20216:00 AM(View: 10)
Bà Mầu Nguyễn ở trong giáo phận Orange, California. Bà có cuộc đời long đong, vất vả, buồn nhiều hơn vui. Tính bà hiền lành và dịu dàng. Bà tham gia cầu nguyện với nhóm Canh Tân Đặc Sủng của giáo xứ St Polycarp hàng tuần để ca ngợi và cầu xin ơn Chúa.
Thursday, April 8, 20211:44 PM(View: 26)
Sau đây là phần chia sẻ cảm nghiệm của Bà Leyna Lưu. Bà đã đi hành hương Đức Mẹ Medjugorje, Nam Tư và nhận được ơn chữa lành cho bản thân và cho con trai. Bà đã chia sẻ cảm nghiệm trong Thánh lễ ngày 29/11/2005 trước sự hiện diện của LM Nguyễn Trung Tây và 70 người trong các nhóm hành hương. (Kim Hà)

LỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY CHÚA NHẬT TUẦN IV MÙA CHAY, NĂM A SỐNG LỜI CHÚA TIN MỪNG : Ga 9,1-41

Sunday, March 22, 20206:45 PM(View: 351)

14-9tgLỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

CHÚA NHẬT TUẦN IV MÙA CHAY, NĂM A
SỐNG LỜI CHÚA

TIN MỪNG : Ga 9,1-41

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

Khi ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !”

SUY NIỆM TRẢ GIÁ

Vào thời cấm hại đạo gay gắt, bà Đê (Lê Thị Thành) bị bắt vì tội che giấu các vị thừa sai. Bà bị quân lính cột các tay áo, rồi thả rắn độc vào người. Bà bị đánh đập đến nỗi thân thể bầm tím, áo bê bết máu. Bà được phúc tử đạo năm 1841.

Sau khi được chữa sáng mắt, người mù đã tuyên xưng: “Đức Giêsu là một vị ngôn sứ”. Thế nhưng, lời tuyên xưng của ông gặp phải sự chống đối của những người Pharisêu. Họ nói Đức Giêsu là người tội lỗi, không thể đến từ Thiên Chúa được vì không giữ luật ngày Sabát. Vì lời làm chứng đó, họ trục xuất người mù ra khỏi Hội đường.

Với người Do Thái, trục xuất khỏi Hội đường là một hình phạt nặng, chỉ dành cho những người tội lỗi công khai và những người mắc bệnh phong cùi. Tuyên xưng lòng tin vào Đức Giêsu khiến người mù phải trả một giá đắt. Tuyên xưng Đức Giêsu là “Đấng bởi Thiên Chúa mà đến” khiến anh bị liệt vào phường tội lỗi, bị buộc tội chống lại giới lãnh đạo tôn giáo.

Những tín hữu sơ khai, vì tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu, cũng bị loại trừ ra khỏi gia đình và cộng đoàn. Điều này vẫn tiếp diễn trong xã hội chúng ta đang sống. Một giáo viên vì muốn giữ đứa con của mình mà bị kiểm điểm và chuyển nơi công tác. Một sinh viên có hạnh kiểm và thành tích học tập tốt, được đưa vào danh sách cảm tình viên, nhưng từ chối, liền bị bạn bè cho là dại! Cách này hay cách khác, chúng ta phải luôn trả giá cho niềm tin vào Đức Kitô.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa, mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa của con. Xin cho con luôn can đảm làm chứng cho Chúa, cho dù phải trả giá ở đời này. Amen.


TU ĐỨC SỐNG ĐẠO: Thánh Giuse và giấc ngủ của Chúa

Năm ngoái, chúng ta đã suy gẫm đề tài về thánh Giuse bổn mạng những người ngủ, và đã có nhiều người áp dụng có hiệu quả. Năm nay, chúng ta sẽ tiếp tục đề tài, nhưng dưới một góc độ khác: “Thánh Giuse và giấc ngủ của Chúa”.

Đề tài này có thể hiểu theo nhiều nghĩa. 1/ Nghĩa đen là thánh Giuse đã nhiều lần thức đêm bên cạnh hài nhi Giêsu, để cho bà mẹ đi ngủ. Một bức họa mới được trưng bày gần đây tại Roma đã được gợi hứng từ đó, để nêu bật vai trò của người cha trong việc chăm sóc con thơ: ông cũng phải phụ giúp vợ đã quá mệt mỏi ban ngày với bao nhiêu công việc nội trợ.

2/ Chúng ta có thể xoay chủ để sang một hướng khác, đó là thánh Giuse đã bị Thiên Chúa ngủ quên. Tại sao nói như vậy? Thưa rằng dựa trên lịch sử phụng vụ. Trong khi các thánh tông đồ, tử đạo cũng như Đức Maria đã được kính nhớ trong lịch phụng vụ từ những thế kỷ đầu tiên, thì thánh Giuse mới được kính nhớ tại vài địa phương vào thế kỷ XIII và được ghi vào ghi lịch phổ quát từ thế kỷ XVII. Có nghĩa là thánh Giuse đã bị bỏ quên, hay nói ngược lại cũng được, thánh Giuse đã bị Thiên Chúa ngủ quên trong thời gian trên dưới 15 thế kỷ.

3/ Còn một đường lối khác nữa để nói về thánh Giuse trong giấc ngủ của Thiên Chúa, đó là Thiên Chúa chẳng nói gì với thánh Giuse, và họa chăng chỉ nói lúc ông ấy ngủ.

Sau những lời giáo đầu để cho anh em khỏi ngủ, bây giờ tôi xin vào bài suy gẫm dựa trên đoạn Tin mừng vừa nghe, mà tôi thấy rất hợp với hoàn cảnh chúng ta đang sống. Chúng ta đã nói nhiều về tấm gương thinh lặng của thánh Giuse. Trong các sách Tin mừng, đức Maria có lên tiếng 7 lần, nhưng thánh Giuse không hề lên tiếng. Nhưng có lẽ ít ai nghĩ đến thánh Giuse đã khổ sở thế nào trước sự thinh lặng của Thiên Chúa. Ông bị đặt trước những ngõ cụt mà chẳng biết cách phải cư xử thế nào. Mãi về sau, ông mới được giải thích.

Bài Tin mừng ngày hôm nay mở đầu bằng một xì-căng-đan. Bà Maria vợ ông bỗng dưng mang thai. Ông biết cái thai đó không phải do sự tham gia của ông, thế thì nguồn gốc từ đâu? Chẳng lẽ bà vợ ngoại tình? Hoặc có thể bà bị hãm hại??? Bà Maria không lên tiếng, bởi vì có phân trần thì ông cũng chẳng tin.

Đến đây, người ta mới thấy tài của thánh sử Matthêu. Theo cha Raymond Brown, trong lịch sử Giáo hội, đã có rất nhiều bài chủ giải cảnh truyền tin cho Đức Mẹ theo thánh Luca, nhưng ít người dừng lại suy niệm cảnh truyền tin cho thánh Giuse theo thánh Matthêu. Thánh sử tặng cho ông một tính từ gói ghém sự cao cả của ông, đó là “công chính”.

Ông Giuse là người công chính. Công chính có nghĩa là gì? Trong tiếng Latinh cũng như các ngôn ngữ châu Âu, iustus bao hàm nhiều ý nghĩa: công bình, công minh, chính trực, ngay thẳng, công chính.

Áp dụng vào trường hợp đang bàn, nhiều người chỉ giới hạn vào tương quan giữa ông Giuse và bà Maria: ông muốn cư xử công bằng với bà. Ông không muốn tố giác bà phạm tội ngoại tình vì sẽ bị ném đá. Ông đâu biết nguyên nhân của cái thai trong bụng bà: bà ngoại tình hay là bị hãm hại? Thật là khó xử. Vì thế ông chọn con đường khác, là hy sinh, chia tay bà cách âm thầm kín đáo.

Có thể giải thích như vậy cũng được, nhưng có lẽ chưa lột được ý của Matthêu. Ông đang nói đến sự công chính trước mặt Chúa, chứ không phải là công bình trong tương quan với tha nhân. Người công chính là người tuân giữ luật Chúa. Và tất cả chương trình của Matthêu nhằm cho thấy rằng Đức Giêsu đến để kiện toàn luật chứ không phải để phá luật. Chúng ta mới nghe trong bài Tìn mừng hôm qua. Trong bối cảnh này, không có gì đáng khen ngợi hơn khi Matthêu cho thấy ông Giuse là người đã chu toàn lề luật. Chúng ta đừng hiểu sai vấn đề. Mấy người Kinh sư và Pharisêu bị Chúa Giêsu quở trách vì đầu óc vụ luật, nghĩa là hiểu sai luật. Và Chúa đến để vạch cho thấy đâu là ý nghĩa chân chính của luật.

Đi vào cụ thể, vì lý do gì ông Giuse được ca ngợi là công chính? Thưa bởi vì ông đang kiện toàn kế hoạch của Chúa. Hay nói đúng, Chúa cần ông để hoàn tất kế hoạch của Ngài. Bằng cách nào? Chúng ta hãy phân tích lời của sứ thần.

“Này Giuse con vua Đavit”. Những lời này đối với Matthêu rất là quan trọng. Hơn các tác giả Tin mừng khác, thánh Matthêu nhiều lần gọi đức Giêsu là “con vua Đavit” (9,27; 12,23; 15,22; 20,30.31; 21,9.15; 22,41-45). Đức Giêsu xuất hiện như là để hoàn tất lời hứa của Thiên Chúa với nhà Đavit, mà chúng ta đã nghe trong bài đọc I. Bằng cách nào Đức Giêsu trở thành con vua Đavit? Thưa nhờ ông Giuse. Ông là con vua Đavit, và là chồng bà Maria trước mặt pháp luật. Ông sẽ đặt tên cho con trẻ. Ông nhận đứa trẻ làm con ông. Đó, Thiên Chúa đang cần đến ông: “Ông làm ơn nhận bà Maria về làm vợ đi”.

Một thắc mắc được nêu lên: bà Maria mang thai cách nào vậy? Thiên thần giải thích: “bà cưu mang do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Tôi xin cam đoan là lúc ấy ông Giuse chưa có khái niệm gì về Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa đâu. Có lẽ Thánh Thần ở đây gợi lên ý tưởng thần khí Chúa lúc sáng tạo vũ trụ. Thần khí ấy sẽ khởi đầu một cuộc sáng tạo mới.

Thiên thần nói tiếp với ông Giuse: “Ông sẽ đặt tên cho trẻ là Giêsu, vì chính người sẽ cứu dân người khỏi tội lỗi”. Vai trò của ông Giuse thật là cao quý. Ông có vai trò giống như ông Giuse trong Cựu ước. Trước kia, ông Giuse (con út của tổ phụ Giacop) đã đưa dân Israel sang Ai cập để tránh nạn đói, rồi từ đó Môsê sẽ giải cứu dân Chúa khỏi cảnh nô lệ. Bây giờ ông Giuse mới sẽ đức Giêsu qua Ai cập để tránh vua Herot, rồi từ Ai cập, lại dẫn Đức Giêsu, nghĩa là “Gia-vê cứu chữa”, ra khỏi cảnh nô lệ. Lần này không phải là cảnh nô lệ chính trị mà là cảnh nô lệ tội lỗi.

Dù sao, đối với Matthêu và các Kitô hữu, đức Giêsu không chỉ là con vua Đavit và là Đấng cứu tinh của Irael, Đức Giêsu còn là Con Thiên Chúa. Đúng rồi, Đức Giêsu là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ông Giuse hãy lấy bà Maria làm vợ, để hoàn tất lời tiên tri của Isaia. Bà sẽ sinh ra Emmanuel, Emmanuel không chỉ là Chúa của người Do thái, nhưng là của toàn nhân loại. Matthêu kết thúc sách Tin mừng bằng lời hứa của Đấng Kitô Phục sinh: “Các con hãy đi khắp muôn dân… Thầy ở cùng chúng con mỗi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28.19-20)

Như vậy, chúng ta cần đọc tất cả 2 chương đầu thì mới hiểu rõ vai trò của Giuse trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chúa có một kế hoạch cứu độ, và mời ông Giuse góp phần.

Matthêu kết luận: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần đã dạy”. Người công chính là thế đó, tuân hành kế hoạch của Thiên Chúa. Ông làm như lời Chúa dạy, giống như dân Israel trước đây đã đáp lại lời Môsê khi ông này công bố giao ước trên núi Sinai.

Ông Giuse là người công chính. Ông chưa biết được những gì Chúa sẽ dành cho mình. Matthêu chỉ kể ra vài đoạn chung quanh việc Chúa sinh ra, cho đến khi định cư ở Nararet. Bao nhiêu nhà tu đức đã ca ngợi diễm phúc của thánh Giuse được sống ở bên cạnh Chúa Giêsu suốt 30 năm. Tôi không nghĩ như vậy. Đó là 30 năm của Chúa ngủ. Làm thế nào chấp nhận được Thiên Chúa phải chịu những giới hạn của con người, phải học ăn học nói, học gói học làm? Làm sao chấp nhận Thiên Chúa không can thiệp gì cho dân chúng đang khổ sở dưới ách đô hộ của ngoại bang?

Chúng ta đang ở một thời điểm khó khăn do nạn dịch: “Chúa ở đâu? Sao Chúa ngủ mãi? Lạy Chúa xin thức dậy đi”. Đó không phải là lời xấc láo của tôi, nhưng là của vịnh gia: “Lạy Chúa, xin tỉnh giấc, Ngài cứ ngủ mãi sao? Xin trỗi dậy đi nào, đừng đuổi xua mãi mãi? (Tv 43, 24-25, Kinh sách thứ 5 tuần II và IV). Và các môn đệ cũng thưa với Chúa đang ngủ ở đầu thuyền: “Thầy ơi chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4,38)

Chúng ta xin thánh Giuse giúp chúng ta biết đối phó với lúc Chúa ngủ, không chỉ vào những lúc rối ren như hiện nay, nhưng mỗi ngày, khi chúng ta cầm Mình Thánh Chúa trên tay. Tấm bánh này chính là Emmanuel, Thiên Chúa ở với chúng ta, giống như ngày nào thánh Giuse đã chung sống ở Nazareth.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.