07 Tháng Hai 20199:50 CH(Xem: 91)
Lời khai bút đầu tiên là con xin tạ Ơn Chúa, Đức Mẹ và Triều Thần Thánh trên Thiên Đàng đã ban muôn ơn lành cho chúng con, bảo vệ và thương xót, và cùng cầu bầu cho gia đình chúng con. Năm nay có một chuyện lạ xẩy ra là chồng của tôi vốn là người ít khi nào chú ý đến việc viết lách của vợ, thế mà sáng nay,
07 Tháng Hai 20199:48 CH(Xem: 90)
Hôm nay ngày Tết, tôi nhớ đến các Cha Bố thiêng liêng của tôi: 1. Cha Cố LM Giuse Ngô Văn Trọng, California. Cha Cố Trọng rất khôi ngô, tuấn tú, tóc cha cắt ngắn; đôi mắt cha sáng và đầy vẻ uy nghiêm. Năm 1963, khi tôi đến nhà thờ Nhà Nước Phanxico Xaviê ở Huế để học giáo lý hầu chuẩn bị chịu phép Thêm Sức...
07 Tháng Hai 20199:32 CH(Xem: 48)
Lúc này tại California vẫn còn là đêm 30 Tết, là giây phút thiêng liêng của đất trời, GĐ chúng con xin Tạ Ơn Chúa vì những hồng ân hạnh phúc và đau khổ, sức khoẻ và bịnh tật, lãnh nhận ơn sủng và mất mát vật chất đến tận cùng. Con không quên cầu nguyện cho các linh mục Cha Bố thiêng liêng của con, đó là Cố LM Giuse Ngô Văn Trọng,
28 Tháng Giêng 20197:04 SA(Xem: 122)
Sau 20 năm phục vụ tôi về lại chốn cũ Tòa Giám Mục Xã Đoài, nơi tôi xuất phát để đồng hành với các bệnh nhân và các linh mục hưu dưỡng tại Tòa Giám Mục. Theo giáo luật, một linh mục khi 75 tuổi sẽ viết đơn xin nghỉ hưu. Tôi mới 65 tuổi mọi người ngạc nhiên sao lại về nhà hưu sớm thế!
27 Tháng Giêng 20193:26 SA(Xem: 114)
Tại giáo xứ Thánh Linh đã có chương trình yểm trợ Ơn Thiên Triệu được 23 năm nay. Tính đến năm 2018, quỹ Ơn Thiên Triệu đã tài trợ hơn $440,000 cho việc học hành của các tu sinh tại giáo phận Orange.
19 Tháng Giêng 20195:50 CH(Xem: 195)
Sau đây là cảm nghiệm của một phụ nữ trẻ mà tôi sẽ gọi cô là Anna. Cô kể: "Tôi có một tấm ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tôi thường chiêm ngắm tấm hình Chúa và thưa với Chúa rằng: 'Lạy Chúa, mỗi ngày xin Chúa cho con yêu mến Chúa nhiều hơn!
19 Tháng Giêng 20191:48 CH(Xem: 134)
Trong Thánh Lễ chiều ngày thứ Sáu 18/1/2019, vào cuối lễ thì cha chủ tế Nguyễn Thanh Sơn chia sẻ vài lời bằng tiếng Anh cho các cháu của ông cụ Vincente vì cha Vinh Sơn đã chia sẻ bằng tiếng Việt trong bài giảng của ngài rồi. Sau đây là lời nhắn nhủ của Cha Nguyễn Thanh Sơn: "Ba tôi và ông Vincente đã quen biết nhau...
19 Tháng Giêng 20191:22 CH(Xem: 123)
Chiều ngày thứ Sáu 18/1/2019, chúng tôi tham dự một Thánh Lễ đưa chân cho ông cụ Vincente, một người quen trong nhóm Tông Đồ hoạt động nhằm đem Chúa đến cho mọi người. Vị linh mục trẻ tên Vinh Sơn đã nói về cụ Vincente trong bài giảng của ngài như sau:
19 Tháng Giêng 201912:33 CH(Xem: 135)
Ông Liêm Nguyễn từ Sàigòn chia sẻ cảm nghiệm qua email: "Chị Kim Hà và Ban Biên Tập Giờ Của Mẹ Thân Mến! Đầu dòng tôi xin chia sẻ cùng quý cha và các anh, chị phần cảm nghiệm này. Xin Chúa chúc phúc cho mọi người trong Ban Biên Tập được bình an trong Chúa và Mẹ Maria Quan Phòng.
16 Tháng Giêng 201912:36 CH(Xem: 183)
LTG: Một thành viên trong nhóm cầu nguyện của chúng tôi lúc đang đi chợ thì trượt chân té ngã và bị gẫy xương chậu. Chị phải nằm điều trị trong bịnh viện từ cuối tháng 12, 2018 cho đến nay. Chị phải trải qua cuộc giải phẫu và phải tập vật lý trị liệu để sớm đi lại được..

Chiếc bánh thứ nhất: Sống phút hiện tại

10 Tháng Hai 20195:39 SA(Xem: 50)
ThuanChiếc bánh thứ nhất: Sống phút hiện tại
Trích tác phẩm “Năm chiếc bánh và hai con cá” được Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết khi bị đưa đi tù cải tạo

Tên tôi là Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, người Việt Nam. Đối với người ngoại quốc tên tôi khó đọc, nên ở Tanjania, Nigeria, Đại Hàn, Đài Loan, các bạn trẻ gọi tôi là “Bác Francis” (Uncle Francis) hay đơn giản hơn nữa là “Francis!”

Đến 23-4-1975 tôi làm Giám mục đã được tám năm, tại Nha Trang, Trung phần Việt Nam, Giáo phận đầu tiên Tòa Thánh trao phó cho tôi. Tôi đã sống những ngày tháng hạnh phúc ở đó và Nha Trang vẫn chiếm một chỗ đặc biệt trong quả tim tôi. Ngày 23-4-1975, Đức Phaolô VI đã đặt tôi làm Tổng Giám mục phó Sàigòn. Khi cộng sản đến Sàigòn, họ đã bảo rằng: “Việc bổ nhiệm một Giám mục một tuần trước khi chúng tôi đến Sàigòn là một âm mưu giữa Vatican và đế quốc, nhằm tổ chức chống cộng sau này”.

Ba tháng sau, ngày 15-8-1975, tôi được mời vào Dinh Độc lập lúc 2 giờ chiều và bị bắt ở đó.

Đêm đó, trên đường dài 450 km, xe công an chở tôi về nơi quản thúc. Bao nhiêu tâm tình lẫn lộn trong đầu óc tôi: lo lắng có, cô đơn có, mệt mỏi có, sau mấy tháng căng thẳng…nhưng trong trí tôi, một quyết định sáng tỏ đã đánh tan mây mù. Tôi nhớ lời Đức Cha John Walsh, một Giám mục truyền giáo gốc Mỹ, đã nói lúc ngài được tự do sau 12 năm tù ở Trung cộng: “Tôi đã mất nữa đời người để chờ đợi”. Rất đúng! tất cả mọi tù nhân, trong đó có tôi, phút giây nào cũng mong đợi tự do. Suy nghĩ kỹ, trên chiếc xe Toyota trắng, tôi đã đặt cho mình một quyết định: “Tôi sẽ không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương”.

Đây không phải là một cảm hứng đột xuất, nhưng là một xác tín đã ấp ủ suốt quãng đời mãi từ tiểu chủng viện: “Nếu tôi mất giờ đợi chờ, không làm gì hết, biết đâu những điều tôi đợi sẽ không bao giờ đến. Chỉ có một điều, dù không đợi cũng vẫn đến, đó là sự chết!”

Trong làng Cây Vông, nơi tôi bị quản thúc, ngày đêm có nhân viên an ninh chìm nổi theo dõi. Trong óc một tư tưởng không ngừng làm tôi xót xa, thao thức: “Giáo dân của tôi! một đoàn chiên hoang mang, giữa bao hiểm nguy, thách đố của một giai đoạn lịch sử mới. Làm sao tôi có thể gần gủi, liên lạc với họ, trong giai đoạn họ cần đến người mục tử nhất! Các nhà sách Công giáo bị đóng cửa, trường học Công giáo do Nhà nước quản lý, tôn giáo sẽ không còn được dạy dỗ trong các trường nữa; các linh mục, sư huynh, nữ tu có khả năng phải đi ra thôn quê, đi nông trường lao động, không được dạy học nữa! Sự xa lìa giáo dân là một cú “sốc” giày vò tan nát quả tim tôi.

Tôi không đợi chờ. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy tình thương. Nhưng làm thế nào?

Một đêm, một tia sáng đến với tôi: “Con hãy bắt chước thánh Phaolô. Khi ngài ở tù, không hoạt động tông đồ được, ngài đã viết thư cho các giáo đoàn. Đơn giản vậy mà con đi tìm đâu cho xa?”

Sáng hôm sau, vừa mới tinh sương, giữa tháng 10 năm 1975, tôi làm hiệu cho một cậu bé 7 tuổi, tên Quang, vừa đi lễ 5 giờ ra, trời còn mù và lạnh: “Quang! con về nói má con mua cho ông mấy “bloc” lịch cũ, ông cần dùng”. Chiều tối, chú bé mang lại mấy “bloc” lịch cũ. Thế là mỗi đêm trong tháng 10 và tháng 11, 1975, tôi đã đóng hết cửa, lấy giấy xi-măng dán bên trong và viết “Sứ điệp từ ngục tù” cho giáo dân của tôi, dưới ánh đèn dầu leo lét, mặc cho muỗi tha hồ đốt. Mỗi sáng thực sớm tôi trao cho bé Quang, mấy tờ lịch tôi đã viết sau lưng, mang về cho anh, chị của Quang chép lại kẻo mất. Nếu để trên bàn tôi, “ông An” (một giáo dân) thấy sẽ sinh tai họa. Đấy là đầu đuôi sách “Đường Hy Vọng”, sứ điệp lao tù thành hình là như thế. Hiện nay sách đã được xuất bản bằng tám thứ tiếng.

Chúa đã ban ơn cho tôi có nghị lực để tiếp tục làm việc, kể cả những lúc chán nản nhất. Tôi đã viết đêm ngày trong một tháng rưỡi, vì tôi sẽ bị “chuyển trại” và không có điều kiện hoàn tất được. Lúc viết đến số 1001 tôi quyết dừng lại, xem đây như công trình “nghìn lẻ một đêm”. Ngày 8-12-1975, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Tội, tôi đã tạ ơn Đức Mẹ cho tôi viết xong “Đường Hy Vọng” và trao trong tay Đức Mẹ gìn giữ, đó là của Đức Mẹ, nhờ ơn của Đức Mẹ, xin Đức Mẹ tiếp tục lo liệu. Đoán vậy mà không sai, đến ngày 18-3-1976, tôi bị đưa vào trại Phú Khánh, biệt giam vất vả nhất.

Năm 1980, lúc bị đưa ra quản thúc ở Giang Xá, Bắc Việt, tôi đã tiếp tục viết mỗi đêm trong bí mật cuốn thứ hai, “Đường Hy Vọng Dưới Anh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II”, cuốn thứ ba, “Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng”.

Tôi không chờ đợi. Tôi sống phút hiện tại và làm cho nó đầy yêu thương.

Trong Phúc âm, các Tông đồ muốn chọn con đường dễ nhất, khỏe nhất: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ mua thức ăn”…Nhưng Chúa Giêsu muốn hành động trong phút hiện tại: “Chính các con hãy cho họ ăn đi” (Lc 9, 1). Trên thánh giá, khi người ăn trộm thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Ngài, khi về thiên đàng xin Ngài nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Hôm nay con sẽ ở cùng Ta trên nước thiên đàng” (Lc 23, 42-43). Trong tiếng “hôm nay” của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy tất cả sự tha thứ, tất cả tình thương của Ngài.

Cha Maximiliano Kolbe sống tinh thần ấy khi ngài khuyên các tập sinh trong dòng: “Tất cả, tuyệt đối, không điều kiện”. Tôi đã nghe Đức Cha Helder Camara nói: “Cả cuộc đời là học yêu thương”. Một lần Mẹ Têrêxa Calcutta gửi thư cho tôi, Mẹ viết: “Điều quan trọng không phải là số công tác đã thực hiện nhưng là mức độ tình yêu ta đã để vào mỗi công việc”.

Làm sao yêu thương đến cao độ như thế trong mỗi phút hiện tại? Tôi nghĩ rằng tôi phải sống mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút như là giờ phút cuối cùng của đời tôi. Dẹp bỏ những gì là phụ thuộc, tập trung cả tâm hồn cho những gì là chính yếu. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là “đẹp nhất” của đời tôi. Tôi phải dành cho mỗi người tình yêu của tôi, nụ cười của tôi: tôi phải lo sợ đánh mất một giây phút nào trong đời mình vì đã sống không ý nghĩa…

Tôi đã viết trong sách Đường Hy Vọng: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại (x Mt 6, 34; Gc 4, 13-15). Sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn, đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó (ĐHV 997).

Các bạn trẻ thân mến, trong thời đại này, Chúa Giêsu cần đến các bạn. Đức Gioan Phaolô II tha thiết kêu gọi các bạn hãy đương đầu với những thách đố của thế giới hôm nay:

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn đầy biến chuyển kinh khủng. Những lý thuyết được xem là đủ sức thi gan cùng tuế nguyệt nay đã đến lúc xế chiều. Trên hoàn cầu, cần phải phác họa lại ranh giới của nhiều quốc gia. Nhân loại tự cảm thấy mình rất lúng túng, hốt hoảng, lo lắng (Mt 9, 36). Nhưng lời Chúa không bao giờ qua đi; đọc lại lịch sử, chúng ta thấy bao nhiêu biến cố thăng trầm, đang lúc ấy lời Chúa đứng vững và chiếu sáng (Mt 24, 35). Đức tin của Hội thánh được xây dựng trên Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu thế độc nhất: hôm qua hôm nay và mãi mãi (Eb 13, 18).

(Gioan Phaolô II, Sứ điệp NQTGT XII, số 2)
Nơi quản thúc: Giang Xá, Bắc Việt
Ngày 19-3-1980, Lễ Thánh Giuse.