14 Tháng Tám 20198:04 CH(Xem: 49)
Tôi đã được ở trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng nhiều năm. Tôi cũng đã từng tham dự những khoá Canh Tân Trong Ơn Chúa Thánh Thần, được giảng dạy bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
14 Tháng Tám 20196:51 CH(Xem: 37)
Một phụ nữ là Thừa Tác Viên Thánh Thể đã chia sẻ như sau: "Tôi thường rước Mình Thánh Chúa đến cho các bịnh nhân tại các nhà thương. Có những bịnh nhân quá bịnh, quá già, không thể rước Chúa Giê su Thánh Thể được nữa. Tôi hay hỏi những người ngồi chăm sóc bịnh nhân rằng liệu họ đã gọi xin gặp các vị linh mục chưa.
12 Tháng Tám 20198:42 CH(Xem: 55)
Tôi vừa gặp một người quen ở nhà thờ Thánh Linh. Cô Mary đã từng đi hành hương Medjugorje với nhóm hành hương của tôi. Kỳ này cô từ tiểu bang khác sang California thăm gia đình. Cô vui vẻ kể:
09 Tháng Tám 20195:40 CH(Xem: 68)
"Nếu con đặt tình yêu của tất cả những người mẹ vào một trái tim cũng không bằng tình yêu của Mẫu Tâm Mẹ Maria dành cho các con của Mẹ." (St Louis de Monfort)
08 Tháng Tám 20197:33 CH(Xem: 65)
Lâu lắm tôi không viết cảm nghiệm nữa vì bận sưu tầm, dịch thuật hơn 300 bài Lời Hay Ý Đẹp và hơn 120 câu nói đánh động. Ngoài ra còn thâu thanh và phát thanh Radio GCM.
06 Tháng Bảy 20196:54 CH(Xem: 67)
Trong mối tương quan xã hội, có nhiều loại người khác nhau. Nhưng đa số được xếp loại như sau: 1. "I know it all": Tôi biết hết mọi sự, khỏi cần ai dạy dỗ hay điều khiển. 2. Làm việc rất ít nhưng chuyên loan tin và nói chuyện đồn thổi. 3. Lười biếng nhưng không muốn ai giúp. Trên bàn họ để đầy hồ sơ giống như một người có quá nhiều việc đến nỗi làm khôn
27 Tháng Sáu 20196:17 CH(Xem: 251)
LTS: Một người trẻ từ Virginia gửi bài cho chúng tôi: Bởi Vì Lòng Xót Thương Chúa quá cao vời và Mẹ Maria luôn đoái thương nhân loại yêu đuối chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con. Amen.
25 Tháng Sáu 20194:54 SA(Xem: 192)
Con học được nhiều điều tốt ở nền văn hoá Mỹ là: 1. Luôn cảm ơn (Thank You), xin lỗi (Pardon me, Excuse me), tôi lấy làm tiếc (Sorry), làm ơn (Please). 2. Khi phải đi qua mặt người khác, khi đụng vào ai, khi đi lách vào hàng ghế trong nhà thờ...thì họ luôn mỉm cười và nói xin lỗi. 3. Khi bị ho hay bị hắt hơi, họ lấy giấy che miệng,
23 Tháng Sáu 20196:44 CH(Xem: 349)
Trong bài trước, tôi đã kể về những gian nan, khốn khó của vị linh mục mà tôi gọi là cha Joe. Ngài kể tiếp: "Thật sự ở Mỹ, người ta không đói về vật chất nhưng lại đói khát về tinh thần. Nhất là những người sang Mỹ một mình, không gia đình, không thân nhân và không rành tiếng Anh. Nếu không tiền bạc,
23 Tháng Sáu 20193:06 CH(Xem: 196)
Cách đây khoảng 7 năm, có một vị linh mục ở vùng tiểu bang lạnh miền đông bắc nước Mỹ đã đọc về đề tài Đức Mẹ Medjugorje trên www.memaria.org và memaria.net của chúng tôi. Vì thế, ngài gọi điện thoại kể rằng chính ngài cũng nhận được rất nhiều ơn lành của Đức Mẹ Medjugorje. Gần đây, ngài lại gọi điện thoại cho tôi và kể cho tôi nghe về cuộc đời ba chìm bẩy nổi...

LỊCH SỬ GIÁO DÂN ĐA MINH Thế Giới

08 Tháng Ba 20179:49 CH(Xem: 796)
LỊCH SỬ GIÁO DÂN ĐA MINH
      
Logo DaminhDanh xưng chính thức đọc thấy ở tựa đề bản luật năm 1285 là " Ordo paenitentiae S. Dominici". Mãi đến cuối thế kỷ 15 (200 năm sau), mới thấy xuất hiện danh xưng Tertius Ordo paenitentiae , có lẽ do ảnh hưởng Dòng Phan sinh. (Sách in tại Phú nhai đường đã dịch là: "Dòng Ba hãm mình ông thánh Đôminicô").

Ở Italia, vào các thế kỷ đầu tiên, các hội viên mang nhiều tên khác nhau: fratres de paenitentia, continentes religiosi viri, pinzocheri ; còn các phụ nữ thì được gọi là mantellatae, vestitae Sancti Dominici, beatae, devotae, pinzocherae, beghinae
 

I. Lịch sử

Về nguồn gốc của Dòng Ba, các thuyết cổ truyền đã bị sửa đổi hoàn toàn. Xưa nay các sách đều viết rằng thánh Đaminh và thánh Phanxicô đã lập cả ba ngành: Dòng Nhất, Dòng Nhì, Dòng Ba. Nhưng ngày nay, tên của hai vị tổ phụ đã bị gạch ra khỏi sổ khai sinh của các Dòng Ba, bởi vì chúng chào đời sau khi các vị đã về bên kia thế giới.

Chung quanh nguồn gốc của Dòng Ba đã có ít là 3 giả thuyết:
chathanh
1/ Thánh Đaminh đã lập ra Dòng Ba (sau dòng Nhì và Dòng nhất), mang tên là "Đạo binh của Chúa Giêsu", rồi sau đó đổi danh hiệu thành "Dòng Ba hãm mình".

2/ Dòng Ba Đaminh do BTTQ Munio Zamora lập năm 1285.

3/ Dòng Ba Đaminh bắt nguồn từ phong trào hối nhân, và sau đó được sát nhập vào Dòng Đaminh. Đây là lối giải thích phù hợp với các tài liệu lịch sử hiện còn lưu lại.

Ordo Paenitentiae (hay Ordo de Paenitentia ) nguyên là?73;oàn thể các hối nhân đã hiện hữu từ thế kỷ 12. Họ là những giáo dân nam nữ muốn trở nên trọn lành tuy vẫn sống ở giữa đời. Có người khấn giữ độc thân, mặc tu phục. Họ ở dưới quyền của giám mục. Họ đã có một bản luật ít là từ những năm 1221 và 1228.

Năm 1247, đức Innocentê IV trao cho Dòng Phansinh trách nhiệm thanh tra các nhóm hối nhân bên Italia. Công tác này đã hoàn tất trong vài năm. Các nhóm này nhờ các cha Phansinh và Đaminh giúp đỡ về tinh thần. Những ai sống gần nhà thờ Dòng nào thì nhờ Dòng đó giúp đỡ. Năng qua lại với các cha dòng nào, giáo dân chịu "ảnh hưởng" tinh thần của Dòng đó ? Vì thế, không lạ gì các nhóm hối nhân đã bị phân hóa thành hai khối, dựa theo màu áo choàng: hối nhân xám (Phansinh) và hối nhân đen (Đaminh).

Những năm 1284-85 đánh dấu một khúc quặt trong lịch sử các nhóm hối nhân. Năm 1284, cha Caro OFM, bề trên Firenze , duyệt lại bản luật của các hối nhân. Năm 1285, BTTQ Munio Zamora OP (+1291), cũng thực hiện công tác tương tự đối với những nhóm được Dòng Đaminh coi sóc. Khác một điều là Đức Nicôla IV lập tức châu phê bản luật của cha Caro; còn bản luật của cha Munio thì mãi đến năm 1405 mới được đức Innocentê IV phê chuẩn . Nói khác đi, từ 1285 đến 1405, bản luật chỉ có giá trị "lưu hành nội bộ".

Một người đã vận động đắc lực để Tòa thánh châu phê bản luật là cha Tôma Caffarini OP, môn đệ của thánh Catarina Siena (+1380) và của cha Raymonđô Capua (+1399). Cha Caffarini là tác giả của lưu truyền cho rằng Dòng Ba do thánh Đaminh lập ra, dựa theo phong trào Đạo binh Chúa Giêsu (Militia Jesu Christi, thiết tưởng dịch là "Nhân dân tự vệ" hay "Dân quân" cũng không sai). Nhưng các nhà phê bình sử học cận đại không thấy mối liên hệ gì giữa Đạo binh Chúa Giêsu với Dòng Ba hết . Trên thực tế, có tới ba phong trào mang danh Đạo binh Chúa Giêsu.

- Phong trào thứ nhất được lập tại Toulouse năm 1221 do cha Conrad Urach dòng Xitô, đặc sứ Giáo hoàng, cùng với ông Phêrô Savary. Phong trào này được tổ chức như một Dòng binh lính, với mục tiêu là tiễu trừ lạc giáo Albigeois (tương tự như Dòng Templari chiến đấu với quân Saracene bên Trung đông). Tuy nhiên, phong trào này đã tan rã năm 1229 khi ông Amaury de Montfort qua đời và chiến tranh với phe Albigeois chấm dứt.

- Phong trào thứ hai ra đời tại Parma (Italia) năm 1233 do cha Bartôlômeô Vicenza OP lập ra, quy tụ những hàng quý tộc để chiến đấu chống các lạc giáo trong vùng Lombardia và Toscana, cũng như để cứu trợ những kẻ cô thân cô thế. Tuy là một Dòng binh lính, nhưng họ không sống thành cộng đoàn; họ chỉ khấn vâng lời và có thể lập gia đình. Tuy do một cha dòng Đaminh thành lập nhưng Dòng không có quyền hành gì trên các phần tử của Dòng. Tổ chức này không tồn tại lâu. Các phần tử chuyển sang Dòng Đạo binh Đức Mẹ (Militia B.M.V) do LM Rufinus Gorgone OFM lập, được châu phê năm 1261.

- Năm 1603, vua Tây ban nha lập một Dòng binh lính mang tên là Đạo binh Chúa Giêsu, với mục tiêu là giúp đỡ cho tòa Điều Tra (Inquisitio). Họ tự nhận là hậu duệ của Đạo binh Chúa Giêsu mà thánh Đaminh đã lập.

Dòng Ba Đaminh phát triển mạnh bên Italia, nhất là từ thế kỷ 14 nhờ ảnh hưởng của thánh Catarina Siena. Các hội viên Dòng Ba được phong thánh và chân phước không phải là ít. Trong hàng ngũ thánh nhân, ngòai Catarina, còn có Zedislava, Rosa Lima. Danh sách này còn dài nếu kể thêm các thánh tử đạo ở Việt nam và Nhật bản.

Ngòai ra, bên cạnh các chân phúc "giáo dân", cần phải thêm các vị linh mục nữa, như Louis Maria Grignion de Montfort .


II. Pháp chế

1. Như đã nói trên đây, bản luật chính thức tiên khởi của các giáo dân Đaminh là Regula Fratrum et Sororum Ordinis de Penitentia Beati Dominici, Fundatoris et Patris Fratrum Ordinis Predicatorum , do cha Munio de Zamora ban hành năm 1285, gồm 22 chương.

Bản luật này đặt các huynh đoàn dưới quyền của Dòng Giảng thuyết. Mục tiêu của họ: veritatis catholicae fidei juxta suum modulum aemulator ac zelator praecipuus . Tuy nhiên sự gắn bó với Dòng xem ra đặt nặng trên khía cạnh tu đức và kinh nguyện (Dòng Thống hối), hơn là trên khía cạnh họat động tông đồ. Các huynh đoàn (fraternitas) được tổ chức như là các tu viện, với các chức vụ prior, magister .

    Các hội viên nam mặc áo chùng trắng, với dây lưng màu đen và áo choàng và mũ đen. Các hội viên nữ thì đội lúp trắng. Họ cũng phải qua thời tập viện, khấn tạm, khấn trọn.

    Về kinh nguyện, các hội viên đọc một số kinh Lạy Cha, được phân phối theo các Giờ kinh phụng vụ. Vào một số ngày, họ phải thức dậy ban đêm để đọc kinh (tương đương với giờ Matutinum).

    Hàng tháng, các hội viên tụ họp tại các nhà thờ của Dòng để dự Thánh lễ và nghe giảng, giải thích luật, và sửa lỗi.

    Các hội viên không tham dự các buổi lễ hội giải trí công cộng.

    Các hội viên phải ăn chay vào các ngày thứ Sáu quanh năm, và suốt mùa Chay và Mùa Vọng. Họ buộc phải kiêng thịt thường xuyên, chỉ trừ các ngày Chúa nhựt, thứ Ba và thứ Năm.

    Các hội trưởng (prior, do các hội viên bầu lên) có quyền phạt những sự vi phạm luật. Hình phạt nặng nhất là trục xuất. Tuy nhiên, luật không buộc thành tội.

2. Bản luật của Cha Munio lưu hành cho đến năm 1923, với sự ban hành bản luật do tổng quyền Louis Theissling, nhắm thích ứng với những quy định của bộ giáo luật 1917. Tựa đề là: Regula Tertii Ordinis saecularis Sancti Dominici vel Ordinis Paenitentiae S.Dominici, vel Militiae Jesu Christi .

Bản luật này không còn buộc các hội viên mặc áo Dòng nữa (trừ scapulare), đặc biệt là cho phép tổ chức các huynh đoàn hỗn hợp (nam nữ), cũng như cho phép thâu nhận các hội viên biệt lập (không thuộc huynh đoàn nào hết).

3. Các đề nghị cải tổ luật Dòng Ba đã được gợi lên từ tổng hội 1955 (Rôma), 1958 (Caleruega) nhằm thích ứng với thần học về giáo dân đang lên. Phải chờ đến khi công đồng Vaticanô II bế mạc, công tác mới thực hiện, với sự thúc đẩy của tổng hội River Forest (1968). Bản văn mới mang tựa đề là Regula Fraternitatum laicorum S. Dominici được Bộ Tu sĩ phê chuẩn thử nghiệm năm 1972. Người ta đã ghi nhận nhiều thay đổi quan trọng:

- Các danh xưng "Dòng Ba", "Dòng Thống hối" đã biến mất

- Nội dung phản ánh một khuôn mặt mới của "người giáo dân Đaminh" với sứ mạng riêng (thay vì mô hình "tu cạn" trước đây). Vì thế bản văn nhấn mạnh hơn đến sự tham gia vào sứ mạng của Dòng, hơn là chia sẻ các kinh nguyện và khổ chế của các tu sĩ. Các danh từ "prior" và "magister novitiorum" được thay thế bằng các từ "praeses" "responsabilis". Không còn đả động gì đến áo dòng hay scapulare!

- Ngòai bản luật chung cho toàn thế giơi?còn có các kim chỉ nam (directorium) dành cho các tỉnh dòng (hay toàn quốc). Như vậy, các huynh đoàn cũng được liên kết với nhau không những ở cấp giáo phận mà còn ở cấp quốc gia nữa.

4. Năm 1985, nhân kỷ niệm 700 năm bản luật của cha Munio, một Hội nghị Quốc tế huynh đoàn Đaminh được tổ chức tại Montréal (Canada) từ ngày 24 đến 29-6, để thảo luận về sứ mạng của người giáo dân Đaminh. Nhân dịp này bản luật 1972 được đem ra thảo luận và hoàn chỉnh (cho hợp với bộ giáo luật 1983). Bản văn được đệ trình Tòa thánh và được Bộ Tu sĩ châu phê ngày 15/1/1987. So với bản văn năm 1972, bản luật hiện hành đã có những thay đổi không nhỏ, chẳng hạn như khi nói đến sự chia sẻ của các giáo dân vào sứ vụ giảng thuyết của Dòng (chứ không phải chỉ chia sẻ vào việc đọc kinh cầu nguyện). Bản luật cũng đặt nặng vấn đề đào tạo (về linh đạo, cũng như về thần học và biết đọc ra dấu chỉ thời đại). Ngòai ra, cũng như bản luật 1972, ban lãnh đạo (giáo dân) của huynh đoàn cũng được nhiều quyền tự trị hơn (số 18: Fraternitates laicorum subsunt iurisdictioni Ordinis; illa tamen autonomia gaudent, qua seipsas gubernent). Cấu trúc của bản luật hiện tại dựa theo mô hình của hiến pháp Dòng Anh em Giảng thuyết.

- Mở đầu là hiến pháp nền tảng (Constitutio fondamentalis), xác định vai trò của người giáo dân trong Giáo hội, và căn tính Đaminh của họ (số 1-8).

- Phần thứ hai bàn về sinh họat của các huynh đoàn (De vita fraternitatum), với hai đề tài chính: đời sống cộng đoàn (bao gồm cả các phương tiện thánh hóa và tông đồ), và sự huấn luyện.

- Phần thứ ba bàn về sự điều hành các huynh đoàn (De structura et regimine fraternitatum). Cũng như trước đây, bản luật 1987 dành nhiều chỗ cho các kim chỉ nam của Tỉnh Dòng (hay quốc gia), do các huynh đoàn sọan thảo và được Tổng quyền phê chuẩn.

Tóm lại,

Từ công đồng Vaticanô II đến nay, đã một sự thay đổi khá lớn về căn tính của "Dòng Ba": trước đây, người ta nhấn mạnh đến sự tham dự vào đời sống tu trì (kinh nguyện, khổ chế) của Dòng nhất; ngày nay người ta muốn nói đến sứ mạng tông đồ ở giữa trần thế. Họ là giáo dân, chứ không phải là bán-tu-sĩ. Tuy nhiên, họ muốn chia sẻ vào lý tưởng của Dòng là truyền giảng Tin mừng, cũng như những phương tiện cố hữu của Dòng để đạt đến mục tiêu đó (chiêm niệm Lời Chúa, cử hành phụng vụ, tinh thần thống hối, tình huynh đệ).

Lm Phan Tấn Thành OP